Trang chủ Diễn đàn Tin tức Đăng ký Thư viện ảnh Hỏi đáp Video Giới thiệu Liên hệ Đăng nhập Xin chào
SƯU KHẢO NGHIÊN CỨU > SƯU KHẢO NGHIÊN CỨU

 

1.     PHÁI GIÁP:

Không phải phái này là con trưởng hay đàn anh bảng phái sau đâu! Theo ý kiến riêng, có lẽ Cụ Tổ mở đầu của phái Giáp đã xuất hiện sớm nhất? So với 7 cụ khởi Tổ 7 phái tiếp theo chăng? Không biết Ngài tên gì cả! Chỉ chép là Vũ Công = (ông họ Vũ) có tên hiệu là Chân Nhân. Đây là cụ khởi Tổ của phái giáp.

-         Có lẽ cụ Tổ Chân Nhân này sinh vào khoảng những năm 1425 – 1430? Vì con trai cụ là ông Hoàng Giáp Tiến sĩ Vũ Quỳnh (sinh năm Quí Dậu 1453) đời vua Nhân Tông. Thì Cha là cụ Chân Nhân được triều đình Lê Thánh Tông tặng cho chức Tham Chính (lúc đó cụ đã mất lâu rồi) vì ông Quỳnh đỗ Tiến sĩ năm 1478 (sau ông Vũ Hữu 15 năm) đã ra làm quan. Nên biết: đời xưa, lúc còn sống, vua ban cho chức tước thì gọi là Phong. Lúc chết, vua cho chức tước thì gọi là Tặng. Bởi thế mới có thành ngữ cổ: Sinh phong, Tử tặng (sống được phong chức, chết được tặng chức).

Chi tiết

Kể ra trong họ Vũ làng Mộ Trạch, huyện Đường an này (nay thuộc tỉnh Hải dương), gia đình Phương quận công thuộc vào chi có thế lực và danh tiếng nhất, mà Phương quận công lại là vai tộc trưởng. Thực ra, cụ là con thứ ba. Hai người anh đầu mất, cụ Vũ Duy Chí trở thành bậc tôn trưởng của họ Vũ, đồng thời cũng là vị Tể tướng trong triều. Lúc này, nước ta ở dưới triều Lê Gia Tông và Tây đô Vương Trịnh Tạc. Cầm đầu các bộ là những viên quan mẫn cán đắc lực, có đức độ cao, được quan lại và nhân dân kính trọng như các ông Phạm Công Trứ, Trần Đăng Tuyển, Nguyễn Mậu Tài v.v. Vũ Duy Chí là một vị Tham tụng có uy tín lớn trong số này. Cụ đã trải qua nhiều chức: Binh bộ Thượng thư năm 1664, Lễ bộ Thượng thư năm 1669. Hiện cụ đang phải giúp chúa Trịnh kiêm quản nhiều việc, vì ông Phạm Công Trứ đã về trí sĩ, dự vào hàng quốc lão, thỉnh thoảng chúa mới vời vào hỏi han. Ông Trần Đăng Tuyển cũng vừa mới mất (1673). Còn ông Thượng thư bộ Hình là Lê Hiếu thì lại bị bãi chức. Lớp quan lại kế cận có tài năng như Hồ Sĩ Dương, Đào Công Chính, Đặng Công Chất v.v. thì chưa được đứng vào hàng Tham tụng.

Chi tiết

 

Cho đến năm 1946, đền thờ bà Vũ Thị Huệ ở làng Từ Quang, tổng Từ Minh, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa vẫn được nhân dân sở tại gồm 5, 6 làng quanh đó kính thờ 4 mùa hương khói. Xưa, các triều đại Lê Sơ, Mạc, Lê Trung Hưng, Tây Sơn và Nguyễn đã ban sắc thần, bao không bà như một phúc thần có tôn hiệu là Nhũ Hương Cung Phi Thịnh Nhũ Quốc Vương Thượng Đẳng Thần (vị cung phi có vú sữa thơm, vú nuôi tốt vua cả đất nước, được làm Thần cao cả)

Thần tích và truyền thuyết đó có thật, kể về một người con gái đẹp, nết na, sức thân con nhà nho ở làng Từ Quang, Huyện Hoằng Hóa về giữa thế kỷ 15 đời vua Lê  Thánh Tôn (1460-1497) có đôi vú thơm tho lạ lùng kể từ tuổi cập kê. Cha mẹ, bà con họ hàng của bà đều thấy điều kỳ lại đó! Hễ ai đứng cạnh cô gái Vũ Thị Huệ ở tuổi trăng tròn tới đôi tám, đều ngạt nhiên ngửi thấy mùi lạ thơm thoang thoảng toát ra từ tấm thân ngọc ngà của cô gái đẹp đó.

Chi tiết

 

Thực tế, trong các gia đình Việt Nam xưa, người Bà Nội, Bà Ngoại, Người Mẹ, Người dâu Trưởng Họ, thường rất được nể trọng (nhất là Mẹ Già và Bà Nội). Cho nên trong các truyện cổ ca ngợi người con có hiếu, đa số đều là con trai có hiếu với mẹ nhiều hơn là con có hiếu với cha? như  truyện nôm “Nhị Thấp tứ Hiếu” (hai mươi bốn người con có hiếu). Quốc sử cũng khen vua Lê Thánh Tông rất hiếu kính với mẹ đẻ là Bà Quang Phục Hòang Thái Hậu. Rồi Trịnh Kiểm, khai sáng nhà chúa họ Trịnh, lúc hàn vi (đầu thế kỷ 16) có hiếu với mẹ lắm. Và Vua Tự Đức (1848-1883) có tiếng là hiếu kính với Bà Từ Dũ Hòang Thái Hậu. Còn dân dã, con trai, con gái, hiếu với mẹ có rất nhiều. Đối với Bố, con cái kính nhiều hơn hiếu? Đó là thực trạng xưa.

Gia đình Việt Nam xưa có nề nếp, dù giàu, dù nghèo, sang, hèn. Vai trò của Bà Nội, Bà Ngọai, Mẹ, coi như là quyết định mọi chuyện cưới hỏi, ma chay, giỗ Tết trong nhà. Các Nho Sĩ nhờ Mẹ, nhờ vợ nuôi nấng cũng rất nhiều. Cho nên vai trò phụ nữ Việt xưa rất quan trọng trong gia đình. Mặc dù nữ giới bị cấm đi thi, cấm làm quan, cấm gia Đình làng, hội họp …. Nhưng ở tron gia đình, phụ nữ được gọi là nội tướng, là gia Nội. Rõ ràng, ngày xưa nhiều người đàn bà lấy được chồng giàu sang hay quyền quý mới được Sử, Phả nêu tên và thường được bà con, anh em, cha me, quý nể và hãnh diện nữa, vì được nhờ vả ít nhiều. Đàn ông Việt Nam quý mẹ, nể vợ nhiều lắm!

Chi tiết

Làng Mộ Trạch, từng được vinh danh là  “Tiến Sĩ Sào” (có thể hiểu nghĩa đen là: Cái nôi (ổ) ấp nở ra các ông tiến sĩ, hay sào huyệt của các ông Nghè). Không nên dịch là “Lò Tiến Sĩ” hay “Làng Tiến Sĩ”. Tiếng Việt xưa nay chỉ có Lò dạy võ, lò, gốm, lò, gạch, lò vôi…chứ không ai nói: lò văn chương, lò tiến sĩ? Chữ “lò” thường được coi là dung tục và tầm thường. Cổ nhân xưa không kiêu ngạo, hãnh tiến tự nhận làng mình là “làng tiến sĩ” bao giờ đâu. Văn hóa Nho gia là khiêm tốn và lễ giáo, chẳng ai dám  “Mục Hạ Vô nhân” mà tự xưng như vậy! Các cụ có tự hào của làng Mộ trạch, nhưng gán câu chữ “Tiến sĩ sào” là do 1 người cháu 17 đời của Cao Biền nhận định thế (dù rằng ai mà có thể kiểm chứng được?). Cổ nhân Mộ Trạch rất tế nhị, chỉ tự hào khiêm tốn rằng: “làng tôi nhỏ bé như tổ chim, nhưng đã ấp nở ra nhiều tiến sĩ, chứ đâu phải cả làng đều đỗ tiến sĩ, (cũng như tổ chim , ổ gà lúc ấp, còn có trứng nở, trứng hỏng).

Chi tiết

Theo cố GS Chân, ban đầu có vài gia đình ở các làng quanh đó là họ Vũ ở bên làng Chằm Thượng, họ Phạm ở Phù Ủng (là 2 làng có từ lâu đời hơn cả) di cư đấn nơi đất hoang sơ có nhiều gò đống, khai canh, lập nghiệp và đặt tên là Ngọc Cục (có thể ban đầu chỉ là 1 xóm thôi?). Về sau, qua thời Trần, Hồ, thời Minh thuộc (1293 – 1427) dân cư các nơi tụ về nhiều hơn, nên nhân khẩu Ngọc Cục tăng dần lên. Và đến triều Lê Sơ (1428 – 1527) thì đã khá sầm uất. Vì thế, đến thời Nhà Mạc cầm quyền (1527 – 1592) đã xuất hiện một khu đất gần làng (có lẽ là đất trồng hoa cũ) của bà Phi (vợ thứ) họ Phạm làng Phù Ủng, vợ Vua Trần Minh Tông (1314 – 1329). Bà là con gái ngài Điện Soái Phạm Ngũ Lão có lập chùa ở gần con sông giáp đới ngạn Ngọc Cục, Phù Ủng. Nơi đó Bà cho gia nhân trồng hoa, có tên nôm là “trại bông” lấy hoa cúng Phật và trang trí nơi Bà cư trú. Dần dần có nhiều người đến phục dịch Bà trồng hoa. Rồi đem gia đình vào ở đó thành ấp Ủng Hoa. Sau nữa, nhân số gia tăng, đã lập ra Thôn Bông, có tên chữ là: Ủng Hoa Đường. Thôn này thời Nhà Lê Sơ và đầu thời Mạc (1428 – 1578) là một xóm trồng hoa của xã Ngọc Cục. Đến năm 1578, lúc đó ở thôn Bông đã có nhiều Nho sĩ, sĩ tử đi thi đỗ cao như Đoàn Quảng Phu, trúng Tiến sĩ từ năm 1514. Bùi Đình Kiên, Phạm Điển, Trương Hữu Phỉ gốc Ngọc Cục cũng đỗ Tiến sĩ trong thời nhà Mạc. Cho đến năm 1578, thôn Bông được tách ra thành 1 xã Ủng Hoa Đường độc lập, không thuộc xã Ngọc Cục nữa. Thời Lê Trịnh (Trung Hưng) 1593 – 1788 làng Hoa Đường đã có tên như thế (bỏ chữ Ủng có nghĩa là Ôm, tụ họp đông người) để nghe cho thanh tao.

Chi tiết
Trang:1 - 2 - 3 - 4 - 5 - 6 - 7 - 8 - 9 - 10« Back · Next »