Trang chủ Diễn đàn Tin tức Đăng ký Thư viện ảnh Hỏi đáp Video Giới thiệu Liên hệ Đăng nhập Xin chào
Danh mục
Thống kê
Đang online: 607
Truy cập hôm nay: 4,702
Lượt truy cập: 8,328,992
Hỗ trợ trực tuyến
Quảng cáo
Mộ Trạch Vũ tộc thế hệ sử tích

(Bản dịch tiếng Việt)

I.     QUYỂN THƯỢNG(1)

(MỘ TRẠCH VŨ TỘC THẾ HỆ SỰ TÍCH)

Lược ghi về nước Việt phương Nam

Kính xét: Từ năm Ất Tỵ [825] niên hiệu Bảo Lịch thứ nhất đời hoàng đế đường Kính Tông, nước Đại Việt ta thuộc nhà Đường đến năm Bính Dần [907] thì chấm dứt, tính được 12 năm (2); nhà Ngô [Quyền] 29 năm, Lê Đại Hành 29 năm, nhà Lý 216 năm, nhà Trần 174 năm, Hồ Quý Ly 7 năm,  nhà Hậu Trần 7 năm, thuộc nhà Minh 4 năm, vua Lê Thái Tổ từ bắt đầu dựng nước đến khi lên ngôi cả thảy 16 năm, tính đến vua Lê Cung Hoàng và họ Mạc cướp ngôi là 115 năm. Tổng cộng từ năm Ất Tỵ thuộc Đường đến khi dứt được họ Mạc là 724 năm

LỜI TỰA
MỘ TRẠCH VŨ TỘC THẾ HỆ SỰ TÍCH KÝ

Nhà có phả,cũng như nước có sử, ấy là để dạy bảo con cháu mai sau biết rõ cội nguồn, càng lâu đời càng không thể quên. Đại Việt ta là nước văn hiến, phàm những thế gia đại tộc không nhà nào không có phả, huống hồ đời nối đời dài lâu như họ Vũ ta cũng kể là sự hiếm .

Về họ “Vũ Đường An”, như người đời thường gọi, nhờ ơn các bậc tiền nhân truyền lại thủ bút, nay chỉ còn thấy có Đồ dẫn biên của tướng công Hằng Trai (Vũ Dự)[3] , Biệt đồ ký của tướng công Phác Trai (Vũ duy Chí), những điều truyền lại của Viên ngoại lang Thức Trai (Vũ Hiệu), những ghi chép của Thụ Tham chính Xuân Trạch hầu (Phương Đề)[4], cùng các văn bia ở nhà thờ các chi, nhưng thảy đều sơ lược, hoặc thiên lệch. Lại còn thơ ca về quê hương như các bài Đường luật trong Tư hương vận lục của Tô Quận công ([Lê] Quang Bí), các bài tuyệt cú của Thọ Lĩnh bá [Vũ Công Đạo], phần nhiều chỉ miêu tả sự tích cụ này cụ nọ, cố nhiên chưa hệ thống được tông tộc, sắp xếp lại họ hàng. Việc tập đại thành như vậy, đối với bậc tiền bối xưa kia, cũng như chư vị danh sĩ đời nay đâu có khó khăn gì trong sự trước thuật. Chung quy chỉ bởi người có quan chức thì đang chuyên tâm vào công vụ, kẻ theo khoa cử thì mải dốc chí ở rừng văn, nên chưa nhàn rỗi đó thôi.

Ta thuộc lớp hậu sinh, cung kính thừa hưởng phúc ấm của tổ tiên mà được dự vào chi thứ ba trong năm chi, dẫu học cạn tài hèn, nhưng với lòng hiếu cổ tầm nguyên, tự thấy không nỡ để tình trạng như vậy mãi.

Kính nghĩ Đức Tổ khai sáng họ ta là Thượng Thần Đại vương, vốn bậc hào kiệt phương Bắc, sang làm đầu mục Nam bang, tinh nghề phong thuỷ trước lớp Cao Đô hộ[5] , giỏi nghiệp thơ văn nối dòng Hán Sĩ vương[6], nên đã chọn danh hương này mà dựng cơ nghiệp, khai sáng nền nhân cho ức vạn năm sau.

Có mở mang tất nhờ tiên tổ, được hưng thịnh phải do hậu sinh. Kế tiếp có cha con cụ Vũ Nạp, rộng chảy thuyền từ bi khơi nguồn phúc dồi dào cho gia đình anh em Nghiêu Tá cùng đăng khoa giáp, nêu ngọn cờ tư văn của họ tộc. Từ đó, các chi sinh hạ ra nghiệp Nho nổi danh, quan chức thành đạt, chẳng đời nào thiếu người. Hiển hách trong “tiền ngũ chi” có Thượng thư (Vũ Hữu), có Thái bảo (Vũ Tráng), có Đình uý (Vũ Phong). Kể đến dưới nữa thì có Huyện Doãn (Vũ Tuỳ), Tổng chính (Vũ Tấn), thật khác nào thế gia vọng tộc ở Tân Dương vậy[7] . Đến chi nữ cũng đã sinh ra một Trạng nguyên (Lê Nại), hai Hoàng giáp (Lê Tư, Lê Quang Bí), quả thực  là chuyện ít thấy ở đời.

Lỗi lạc trong “tiền ngũ chi” thì có Thị lang (Tự Khoái), có Tể tướng (Duy Chí), có Thượng thư (Phương Trượng). Xuất phát khoa bảng chính thống lại có Hoàng giáp (Bạt Tuỵ), có Tiến sĩ (Cầu Hối), gia thế cao sang như ông Tiêu, ông Đậu (4). Do chi nữ sinh thành cũng có hai Tiến sĩ, một Thượng thư (Công Đạo, Công Lượng ), cũng là chuyện xưa nay hiếm. Thi Hương, Hội đỗ cùng bảng có 6 người thì họ Vũ ta chiếm 3, ấy là điều trong khoa cử từ xưa chưa từng thấy(1). Trong ngôi thứ bá quan đồng triều, riêng họ Vũ ta có 18 vị, lại cũng là điều cổ kim kỳ lạ chốn quan trường. Công tích lớn lao còn lưu lại tiếng thơm thì như cụ Phóng Trai (Hàn lâm Nhữ Mai) mới dạo bước vườn Hàn mà được đảm đương công việc Thị thảo[8], cụ Ước Trai (Thượng thư Vũ Hữu) nắm quyền cầm cân nảy mực, nức tiếng bậc văn thần. Giàu tài viết sử, nổi tiếng hay thơ có các tiên sinh Đốc Trai (Vũ Quỳnh), Tùng  Hiên (Vũ Cán), là bè bạn cùng lứa với Giáp Kế [Giác hải], Trình Am [Nguyễn Bỉnh Khiêm]. Dám bẻ gãy lan can nơi thượng điện [mà ngăn vua], chạm vào vảy ngược nơi cổ rồng [để cản chúa][9] , ấy là các danh sĩ Đường Xuyên (Duy Đoán), Thọ Lĩnh (Công Đạo), đáng sánh cùng [Chu] Văn An, [Lê] Cảnh Tuân[10] . Hồ Ninh (Duy Hài) nhờ tài dùng mỹ nhân kế trong trận Hồng Đàm mà được dâng tấu báo tin chiến thắng, ấy cũng thể kỳ mưu của Trần Nhu Tử[11]. Thức[12] Trai (Vũ Dự) mang ấn chủ soái mà được vinh phong thái ấp, lại giỏi kê cứu những chuyện xưa như “Hoàn Vinh”[13] . Túc Hiên (Tự Khoái), Phác Trai (Duy Chí) lập nghiệp lớn ngang Tiêu, Tào, Phòng , Đỗ[14], danh thơm lưu muôn thuở. Lãm Hiên (Vũ Đăng Hiểu), Độc Bộ (Vũ Duy Cung) soạn từ chương sánh ngang Âu, Tô, Hàn, Liễu[15], văn thơ trăn năm sau còn được công luận tán thưởng. Ngoài ra còn có Trạng Vật (Vũ phong), Trạng Cờ (Vũ Huyên), danh hiệu hiển hách; Sinh Phật (Vũ Lương), Hoạt Phật (Đăng Xu), tăm tiếng lẫy lừng; hoặc được người đời tặng hiệu “ngũ long” (Tự Khoái, Bạt Tuỵ, Duy Chí, Phương Trượng, Cầu Hối), hoặc tôn xưng “tam hổ” (Đình Phúc, Khắc Tiêu, Trọng Trình). Phô tài văn chương như gấm vóc có (Phương Đề), chối bạc vàng mà tròn danh tiết cũng có (Vũ Hiệu).

Ấy bởi mạch quanh co nên chín trăn năm có lẻ, dòng họ được nhiều bậc thành đạt, nơi khoa giáp, thăng tiến ở quan trường, cầm soái ấn, giữ binh nhung, đeo hồ phù; còn như những người cắp bút nghiên mà vào nhà Quốc học, mặc áo xanh học trò, kể có đến ngàn kẻ. Lời xưa có câu “Con cháu có tài, tất dòng họ lớn mạnh”, há chẳng phải nhờ tài mà được hưng thịnh vậy sao? Lại có câu rằng: “Trong nhà tích thiện, ắt phúc ấm dồi dào”, há chẳng phải bởi thiện mà được báo đáp vậy sao?

Nay xem Thiên Phật danh kinh (tức Đăng khoa lục) cùng Việt Nam sử ký do người xưa ghi chép, cũng có thể biết đại lược. Tuy nhiên, sau bao cuộc tao loạn binh đao, sách hư phả nát, tránh sao khỏi mất mát sai lầm. Cả phần đầu từ  Đường mạt [cuối thế kỷ IX] đến Nguyên sơ [đầu thế kỷ XIII] đã thất truyền. Vả lại những cách xưng hô như “ông Sòm”, “bố Sòm”, hoặc gọi nhau bằng “ông Bông”, “anh Bông”, ấy là đã lạc vào chốn quê mùa thô lậu mất rồi! Tuy nhiên, ngũ chi bát phái vẫn rõ ràng, công danh còn vòi vọi, đức nghiệp đã rộng lan nơi nơi, há nên để sự tốt lành ấy mai một mà không được nêu làm mẫu mực cho mai sau?

Ta vì điều ấy từng lo lắng nhiều, nghiền ngẫm kỹ, bèn cùng người em họ  là Tông Hải, cháu bên ngoại là Thế Nho, xem xét lược đồ tộc phả, tham khảo ghi chép đời xưa mà dựng thành một bộ gia phả, dẫn giải tường tận thế thứ, sự tích, ngày giỗ, nơi để mộ; lại dẫn chứng bằng những bài thơ  xưa, chíng văn viết bằng chữ to chú thích ghi bằng chữ nhỏ, không gì là không rõ ràng minh bạch. Các bài văn tế, văn bia, bài văn làm khi đi thi, các trước tác thơ phú đều phụ lục ở cuối sách, rồi chia thành hai quyển “Thượng “ và “Hạ”. Khai bút từ xuân Đinh Hợi [1767] đến thu Kỷ Sửu [1769] mới hoàn thành, bấm đốt ngón tay nhẩm tính, thấm thoát đã ba năm trời!  Viết xong lại thỉnh một vị ngay trong tộc ta đang làm quan trong triều là Thiêm sai Tri Công phiên, Hàn lâm viện Thị thư Vũ Quý hầu(1) nhuận sắc cho, sau đó mời các chi phái tới sao lại mỗi nơi một bản để rộng truyền. Phàm là kẻ hậu tiến phải có chí noi theo bậc tiền nhân, dù hôm nay, dù mai sau, hãy kế thừa chép nối các đời mãi mãi, để nhờ ơn oai linh phù trì của đấng Thượng Thần, thừa hưởng phúc trạch đi lại của chư vị tổ tiên mà đời đời khoa giáp, đời đời công hầu, đời đời khanh tướng, đời đời con cháu trường tồn cùng Trái Đất!

Sach Địa lý đã truyền câu quyết là: “thế xuất danh khôi”; lại có câu rằng: “Cháu con kế nghiệp”, đều là nói về sự này chăng?

Vậy nay cầm bút làm bài Tựa.

Triều Lê vạn vạn niên, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 30, Long Tập, năm Kỷ Sửu [1769], tháng giữa Thu ngày tốt lành.

Mậu lâm lang, Lang trung bộ Hình Vũ Phương Lan kính cẩn đề.

ĐƯỜNG TRẠCH VŨ TỘC PHỔ HỆ TỤC BIÊN

(QUYỂN THƯỢNG)

 Cháu đời thứ 15 thuộc chi thứ III Lan Am Vũ Phương Lan

Cháu đời thứ 15 thuộc chi thứ V Hằng Hiên Vũ Thế Nho

Cháu đời thứ 10 thuộc phái Kỷ Vũ Tông Hải cùng biên soạn

Cháu đời thứ 10 thuộc phái Kỷ Tiến sĩ Di Hiên Vũ Huy Đĩnh nhuận sắc

Đức Tổ sáng nghiệp họ Vũ (   ) tên huý (bên trái viết bộ chấm thuỷ (      ), bên phải viết chữ “quân (     )”[16] vốn người huyện Long Khê tỉnh Phúc Kiến bên Trung Quốc, làm quan dưới triều Đường Kính Tông, năm thứ nhất niên hiệu Bảo Lịch (825) sang ta thay Hàn Thiều làm Thứ sử Giao Châu[17]; đến đời Đường Văn Tông, năm thứ 3 niên hiệu Hội Xương (843) được thăng làm An Nam Đô hộ sứ[18]; sau vì tuổi già bệnh tật trả thẻ bài từ quan[19] , do chỉ yêu mến phong cảnh làng ta, bèn chọn làm nơi an cư.

Nay xét: truyện cũ kể rằng Đại Vương vốn tinh thông khoa địa lý, đến nước Nam ta từ trước Cao Biền[20], trong những ngày rảnh rỗi việc  quan từng đi xem khắp miền danh địa của Nam bang như Cổ Bi ở Gia Lâm, Thanh Nhàn ở Kim Anh[21] , Xuân Lôi ở Vũ Giàng, Cổ Loa ở Đông Ngàn, Hoàn Hậu ở Quỳnh Lưu Đều đã từng đồn trú cả.Thế nhưng Ngài chỉ yêu mến riêng có làng ta là nơi mạch đất kết thành loa tràng(hình xoắn ốc), có đủ ngũ khí bao quanh-một kiêủ đất phát danh khôi,bèn lập ấp ở lại,nhưng đấy đặt tên huyện là Đường An[22], tên xã là Khả Mộ,{(Trong Tông dẫn đồ nguyên bản có câu viết rằng:Vũ Hồn người nhà Đường làm Thứ sử Giao Châu là Thuỷ tổ của họ Vũ, nay tên huyện gọi Đường An hẳn có ngụ ý ấy)}[23],về sau mới đổi thành Mộ Trạch.Nguyên do trước kia làng ta chỉ có ấp ngoài thôn Hạ, tên gọi xã Lập Trạch. Đại vương tới đây bắt đầu nhân chỗ đất bằng phẳng thôn Thượng mà lập thàng ấp, từ đó con cháu Ngài xin trưởng tại bản địa, thành người nước Nam, an cư lập nghiệp trên đất mới, từ đời Đường qua đời Tống đến nay đã lâu xa lắm rồi.

Khi Đại vương tạ thế, con cháu đem hợp táng với bà Vương phi tại phía Bắc thôn gọi là thần lăng (Đông bắc giáp Trạch Xá).

Lại xét: thế đất ấy có quan chầu phía trước, quỷ chầu phía sau, bên phải có cờ, bên trái có trống, vũ sĩ phù vệ hai bên, ngựa mẹ dắt con, mạch dẫn phía trái, bẩy sao triều án, Hợi long, Nhâm sơn, Bính hướng.

Nhiều triều vua đã ban sắc mệnh phong Ngài làm phúc thần. Về các đời xa xưa, không thể khảo cứu tường tận được nữa. Chỉ biết rằng từ đời nhà Lê, năm thứ 5 niên hiệu Long Đức [1734] {đã được bao phong 3 mỹ tự là Phù Cảm [dễ gây sự tin cậy], Hựu Quốc [giúp nước], Tuy Dân [yên dân]. Năm Đinh Tỵ niên hiệu Vĩnh Hựu [1737] lại được phong lên hàng Thượng đẳng thần với 3 mỹ tự là Chân Linh [linh thiêng chân chính], Hiển Ứng [ứng nghiệm rõ ràng], Thịnh Liệt [oanh liệt thịnh vượng]}[24]. Năm Canh Thân đầu niên hiệu Cảnh Hưng [1740] gia phong 3 mỹ tự là Hoằng Hưu [rộng lớn niềm vui], Diễn Phúc [tràn đầy phúc lộc], Dụ Hậu [dư dật về sau]. Năm Đinh Hợi đời Cảnh Hưng [1767] lại phong 3 mỹ tự là Khải Văn [khai sáng văn chương], Triệu Vũ [mở mang võ bị], Đốc Khánh [đôn đốc ân thưởng].

{Năm Kỷ Hợi niên hiệu Cảnh Hưng thứ 40 [1779] lại bao phong 3 mỹ tự nữa là Xiển Quang [xán lạn minh bạch], Khuông Tộ [khuông phò phúc đức], Xương Dận [làm thịnh đẹp đời sau]. Năm đầu đời Chiêu Thống [1787] bao phong 3 mỹ tự là Thuần Hỗ [thuần nhất phúc đức], Hồng Hy [làm lớn vận may], Phu Mỹ [phô bày vẻ đẹp].Năm đầu đời Quang Trung [1788] gia phong 4 mỹ tự là Di Trạch [để phúc ấm], Nghiên Cơ [hiểu rõ huyền cơ], Hoằng Dụ [rộng mở giàu sang], Phổ Khánh [rộng ban ân thưởng]. Đương triều Tự Đức năm thứ 12 Kỷ Mùi [1859][25]  gia phong làm Tuấn lương Tối linh Phù vận Đại vương [Thượng đẳng thần rất linh thiêng lương thiện tài trí phù hộ vận mệnh]}. Ngài đã lâu đời linh ứng, làng ta từ cổ xưa vẫn phụng thờ.

Còn thần vị bà Vương phi, theo người xưa truyền lại rằng bị thôn Trạch Xá thuộc xã Thì Cử[26]  lén rước về phụng thờ, nay xem duệ hiệu và sự tích đều tương đồng.

[Ngôi miếu cổ][27]

Ở bên ven đường xứ ông Hỡi sau thôn, hình núi bán nguyệt, Tỵ sơn, Hợi huớng. Đời Lê Thần Tông niên hiệu Vĩnh Thọ [1658 – 1662] dời về xứ Mắt Rồng phía Bắc thôn,, Hợi long, Dậu sơn, Mão hướng. Trong miếu có các câu đối của ông [Giải nguyên 1666] Tham nghị Vũ Đăng Hiển, như sau:

Bế thời tận tống chư tai khứ

Khai nhật trùng nghênh bách phúc lai

[Thời cùng khốn tống đi nghìn tai hại - Buối khai thông nghênh đón trăm phúc lành]

Nhất đoàn vân tập dung nghi thịnh

Vạn cổ hương sinh miếu mạo quang

[Một đàn cháu con đẹp tươi dáng vẻ - Muôn thuở đèn hương rực rỡ đền dài]

Phúc chỉ nhân cơ long bất bạt

Hồng danh duệ cửu nan manh

[Gốc Phúc nền Nhân lâu bền chẳng đổ - Hiệu sang danh lớn vĩnh viễn không tan]

Thiện chương ác điển hào vô sảng

Phúc giáng tai trừ nhẫm hữu linh

[Thiện bồi ác diệt, một ly không lầm lẫn – Phúc giáng tai trừ mãi mãi vẫn linh thiêng]

Trong tập Tùng Hiên bát cảnh[28] có bài thơ Lâu đài cổ miếu, như sau:

Phiên âm:

Cảnh ngưỡng thần minh bất độ tư

Tiên thầm hương hoả cổ tùng từ

Dương dương phúc thịnh quang lâm nhật

Trạc trạc anh linh giám cách thì

Hãn hoạ ngự tai cộng thậm đại

An dân lợi vật huệ bàng thi

Ngô hương kì phúc hàm mông phúc

Thiên tải danh ngôn duẫn tại tư

Tạm dịch thơ:

Tòa miếu cổ

Ngưỡng mộ thần linh chẳng kể ngày:

Lòng thành hương hoả miếu thờ đây.

Rành rành phúc thịnh gia ban trước,

Vòi vọi anh linh chứng giám nay.

Giải hạn trừ tai công đức lớn,

Yên dân lợi vật huệ ân dầy.

Làng ta cầu phúc người người hưởng,

Tiếng nức ngàn năm – chính chốn này!

[Ngôi đình cổ]

Ở xứ Tây Trù nơi đầu thôn, Cấn long, Chấn sơn, Đoài hướng, lấy ao Âm Dương làm án, nay vẫn còn di tích. Khoảng niên hiệu Vĩnh Thọ [1658 – 1662][29] đã dời vào giữ thôn, Cấn long, Nhâm sơn, Bính hướng. Hằng năm vào xuân, mỗi khi mở hội ca hát thì tạm gác gỗ lợp gianh, tục gọi là Đình Đòn, xong việc lại dở bỏ. Đến năm Đinh Sửu đời Dương Hoà [1637] mới dựng đại đình, cột kèo nguy nga, thật đáng ngưỡng vọng (hiện còn văn bia). Ngôi thứ ở trong đình bố trí cho 6 giáp, bên ông Đông 3 giáp là Văn Đông, Chính Phái và Xuân Đình; bên tây 3 giáp là Nhân Lý, An Tây và Bình Đăng. Thời sau lại phân chia thành 19 giáp[30]: phía Đông 9 giáp là Văn Độ, Văn Hiến, Văn Đông, Văn Chánh (4 giáp này là con cháu Truy Viễn đường), Chính Phái (tộc của Tri bạ Thọ Lâm), Xuân Chính (tộc Thượng thư Vũ Cán, Vũ Công Đạo), Xuân Đình (tộc Tiến sĩ Vũ Lân Chỉ), Xuân Đình Chính (tộc ông Đồng phủ Hạ Hồng), Xuân Đình Thọ (tộc Tiến sĩ Vũ Công Bình); phía Tây 9 giáp là: Nhân Lý (tộc ông Đồng châu Hoa Thọ), Nhân Toàn (tộc Trạng nguyên Lê [Nại]), Nhân Hậu (tộc Lộc Quận công), Nhân Thọ (tộc Hữu mạc Vũ Quyển), An Tây (tộc Tiến sĩ Nhữ [Mậu Tổ]), An Thọ, Đoan Chính (tộc Tây Khê hầu), Bình Đăng và Bình Chính (tộc Thượng thư Vũ Quỳnh). Việc ăn uống ở đình phân theo ngôi thứ, 4 góc trong ngoài đình, giữa đình đều chia hai bên nam nữ ngồi riêng, xem hát xướng cũng phân theo đẳng cấp.

Khoảng năm Canh Thân – Tân Dậu [1740 – 1741] đình bị bọn giặc thiêu trụi[31], đến năm Đinh Sửu [1757] đời Cảnh Hưng dân làng mới dựng lại được (từ ngày xây đình đến nay đã 120 năm). Người cháu 13 đời thuộc chi V là bà chính thất của ông Vũ Phương Đẩu, tức Quế Lâm quận phu nhân Nhữ Thị Thuận đã đóng góp tiền của đến 3 ngàn quan, vậy nên được trên dưới đồng lòng bầu làm hậu thần của xã. Nhờ đó mới làm lại được ngôi đình to lớn hơn, cột bằng gỗ lim, mái lợp ngói, tường gạch vây bốn mặt, thực là tráng lệ hơn xưa nhiều. Đến bản triều Hình bộ Tham tri Vũ Tuấn cúng tiến vật liệu gỗ, thôn ta nhân đó làm thêm hành lang, tả vu và hữu vu càng thêm đẹp đẽ, hằng năm tổ chức cúng tế, xướng ca. Trước đình có treo 2 tấm biển trên viết 5 đại tự “Thánh chúa thọ vạn niên”, với hai dòng tiểu chú {viết đọc} hai bên mỗi đại tự, là:

Phiên âm:Tạm dịch thơ:

Xuân thiên quang bát biểu

Trời xuân bừng tám cõi

Thánh chủ vạn thọ niên

Chúc thánh thọ vô cương

Lạc yến kê Chu dịch

Hội hè nên chừng mực[32] ,

Tàng cưu khải Hán diên

Tiệc rược theo kỷ cương[33].

Sự Thần chiêu Tả, Hữu

Thờ Thần cùng Tả, Hữu,

Tập phúc đẳng sơn xuyên

Hưởng phúc với núi sông.

Biển dưới từ xưa vẫn dùng quốc âm niêm yết “Mục lục”, hàng năm quan viên luân phiên làm, đến ông Hội nguyê [1664] Vũ Duy Đoán mới dùng chữ Hán soạn bài tán văn, lâu năm thành thể thức, làng thuê thợ chạm khắc, sơn son thiếp vàng cho mỹ lệ. Bài tán ấy viết:

Phiên âm:Dịch nghĩa:

Hạ thì Nhân chính

 Lịch đời Hạ, tháng Nhân chính[34],

Xuân trạch vật huy

Mưa xuân, muôn vật tốt tươi.

Hoàng phúc phu tích

Ơn vua ban rộng khắp,

Dân tâm du diLòng 

dân đều hoa hỉ,

Đình thu thắng thưởng

Chơi trò đánh đu giữa sân,

Cù nhưỡng lạc hy .

Vui vầy khắp ngõ xóm

Ngô hương thượng xỉ

Làng ta trọng người cao tuổi,

Hảo cảnh khai mi

Yêu cảnh bọn trẻ mở sách học,

Hậu nhân hiệp ngữ

Cùng nhau nói lời nhân hậu,

Ca vũ trưng thi

Thích thú thơ văn, xướng ca.

Dịch nhu yến ẩm

Tiệc tùng cần thiết theo kinh Dịch,

Lễ tiết châm quy

Lễ lạt răn dạy có chừng mực[35]

Sự Thần tồn kính

Thờ thần giữ sự tôn kính,

Tại đảng hữu nghi

Việc làng đều có khuôn phép

Quan nghiêm vân hữu

Người già thì mực thước,

Kỹ xảo tuyết nhi .

Con trẻ khéo léo tay nghề

Mục điều chỉnh liễu

Điều lệ chỉnh đốn các mặt,

Phúc lý tuy chi

Phúc lộc thỏa lòng mọi người.

Quan thăng đẩu toạ

Người làm quan thăng tiến tột đỉnh,

Vị liệt đài ti

Giữ chức vụ ở khắp các đài, ty;

Sĩ phàn quế nguyệt

Kẻ sĩ đi thi luôn đỗ đạt,

Nông nhẫm cốc thì[36]

Kẻ làm ruộng thóc gạo đầy bồ

Phú quý khang lạc

Cả làng giàu sang yên vui,

Xương đại ngải kì

Già trẻ khoẻ đẹp ngời ngời,

Chư phúc hàm tập

Mọi phúc lành hội tụ nơi đây.

Hữu bảng thông tri

Vậy nay xin có bảng thông báo.

Tiến sĩ [1736] triều Lê Vũ Phương Đề có soạn nhiều câu đối:

Anh thanh trác trác Trung Hoa trụ

Chính khí dương dương Thượng đẳng từ

[Dòng dõi Trung Hoa tiếng tăm vòi vọi - Miếu đền Thượng đẳng chính khí mênh mang]

Kim Tối linh từ Vương thượng đẳng

Cổ Đô hộ sứ đế Nam Giao

[Nay có Tối linh từ bởi là Thần thượng đẳng – Xưa làm Đô hộ sứ như thể Đế nước Nam]

Cao hậu dữ tham, vọng quốc mặc phù, linh trạc trạc

Thông minh như nhất, danh hương hiển tướng, phúc nhương nhương

[Thanh cao đôn hậu gồm kiêm, lặng lẽ tôn phù đất nước, linh vòi vọi – Thông tuệ anh minh sau trước, hiển hiện trợ giúp quê hương, phúc tràn đầy]

Thứ chuyết đống lương chế độ quy mô chiêu nhật lệ

Thanh minh văn vật y quan lễ nhạc sán tinh trần

[Then chốt cột kèo, chế độ quy mô soi sớm tối – Sáng ngời văn vật, y quan lễ nhạc rạng trăng sao]

Tự liệt tam tôn yến vũ oanh ca cung thắng thưởng

Trù ưng ngũ phúc quy trình phụng chúc diễn trường xuân

[Đền miếu đặt tam tôn, yến múa oanh ca phô bày cảnh đẹp - Nghiệp nhà truyền ngũ phúc, rùa trình phượng chúc tràn ngập xuân tươi]

Tú thát phong lưu, châu ngọc như tùng kim thế giới

Hương khuê thái độ, ỷ la mãn tọa cẩm càn khôn

[Huy hoàng cửa gấm, châu ngọc như rừng sang một góc - Yểu điệu phòng thơm, lụa là đầy chiếu đẹp đất trời]. – (Câu này vốn ở phía Tây đình nơi các bà ngồi).

{Lại có các câu của ông Cấp sự Văn Đức tử[37]

Vị tử tôn lập vạn đại cơ, khanh tướnh công hầu vô trị loạn

Dữ thiên địa đồng nhất nguyên khí, đế hoàng vương bá hữu long ô

[Vì con cháu lập nền vạn đại, thời bình như thời loạn đều làm nên công hầu khanh tướng - Với trời đất cùng một nguyên khí, có thăng cũng có trầm vẫn là đế hoàng bá vương]

Danh ấp vạn niên xuân, Hàn vãng Cao lai tiều lệ mộng

Sùng từ thiên cổ ngật, Lê chân Hồ nguỵ tửu kỳ tàn.

[Làng ấp danh tiếng nghìn năm tươi  sắc xuân, dù Hàn Ước có lui, Cao Biền có tới, Đời thực hư đều như giấc mộng – Mái đền linh thiêng muôn thuở vẫn sừng sững, dẫu triều Lê là chân, nhà Hồ là nguỵ, cuộc cờ, rược tất đến hồi tàn].

Tự Đường An quyết hậu du cư triệu bạt ức niên ca vật bái

Liêm Phúc Kiến kỳ[38]… hữu cực vu quynh vạn thế bốc kỳ hưng.

[Nương Phúc Kiến thời trước, nơi ngoài cõi có ngôi cao mà vạn đời hưng nghiệp - Tự Đường An vận sau, chốn xa xôi chiếu xóm ấp nên muôn thuở ngợi ca]

Lại có câu đối của ông Trưng sĩ Đốc phủ:

Trung Hạ Nho tông hương thuỷ tổ

Nam thiên dân mục quốc danh thần

[Vốn dòng Nho Hoa Hạ[39], làng coi là thuỷ tổ - Thành đầu mục dân Nam, nước tôn thờ làm thần]

Biệt thành vũ trụ lưu phong viễn

Hữu lức lầu đài chính khí cao.

[Riêng thành một thế giới, tiếng tăm truyền xa mãi – Thanh tĩnh khán lâu đài, khí thiêng vòi vọi cao].

Hậu ủng thất tinh bồi đạo mạch,

Tiền triều nhất thuỷ dụ văn lan.

[Bảy sao che chở phía trước vun bồi cho mạch đạo,

Một dòng nước chầu phía sau nhuần tưới cho nghiệp văn].

Xuân thiên minh mị danh khôi địa,

Sinh khí huân coa Thượng đẳng từ.

[Trời xuân trong sáng vùng đất danh khôi,

Sinh khí lẫy lừng mái đền Thượng đẳng]

(Câu đối này do giáp Xuân Chính cung tiến treo ở cửa y môn).

Quan Ngoại lang người Nam Định là Tiến sĩ [1838] Doãn Khuê cũng có một câu đối:

Tiết việt trấn sơn hà, cung điện chuyển vi miếu vũ

Tùng thu tọ cương tỉnh, nhân dân giai thị tử tôn

[Từng cầm tiết việt giữ non sông, nay cung đình biến thành đền miếu - Vẫn làm bách tùng gìn đất nước, chúng dân thảy lũ cháu con] <…>[40]

[Ngôi chùa cổ]

Xưa đại vương từng dựng ngôi chùa thờ Phật, gọi là chùa Diên Phúc, ở xứ hình rùa phía Tây - bắc thôn, Cấn long, Nhâm sơn, Bính hướng. Xưa truyền lại rằng chùa có vị Phật Bà tối linh. Số là ông Vũ Nhân Trung, người làng ta, từng làm Hiến sát sứ tại đạo Yên Quảng. Ngoài hải đảo có một danh lam thờ tượng Phật bà 2 mắt 12 tay. Một đêm ông mộng thấy vị Phật ấy đến phán và bảo rằng: “Chị nghe làng quý đệ là chốn danh địa vùng trung châu, chị nay không muốn ở chốn hải đảo xa xôi này nữa, vậy ngày được trở về quý đệ nên đưa chị theo”. Ông y lời chở tượng về bản chùa phụng thờ, người làng ta đến cầu phúc đều linh nghiệm. Ông Tham nghị Nghệ An  vũ Công Tín có làm mấy câu đối treo ở tiền đường:

Bình dinh khích thiết thâu phàm khổn

Sơn phụ hoan hô chúc thánh cung

[Lê dân tụ tập dâng thành kính - Đồi núi hoan hô chúc Thánh nhân]

Tọa tiền bảo ánh hồng liên nhị

Điện thượng châu sinh lục liễu chi

[Trước chùa sen quý hồng tam bảo - Trêndiện liễu xanh nhả ngọc châu]

Pháp vân tần nhuận phô chân tế

Tuệ nhật hoằng khai diệu đạt cù

[Phép Phật như mây thuần thấm phô bầy chân lý - Từ bi tựa nắng huy hoàng rộng mở diệu huyền]

Bối diệp tuyên dương nghênh bách phúc

Kim thanh chấn đãng tống chư tai

[Kinh Phật tụng to nghênh phúc lộc – Chuông vàng vang vọng đuổi tai ương]

Trước và sau chùa trồng 5 đại thụ cao ngất um tùm, cây thì như tán lọng, cây thì tựa voi nằm. Gần đây hỏi các vị bô lão tám, chín mươi tuổi thì các cụ đều bảo: “Chẳng rõ trồng từ năm nào, từ thuở thiếu thời bọn ta đã thấy cao lớn như thế rồi”.

Phía Đông – Nam chúa có cái giếng khơi, trúng mạch nước ngầm, nước trong có vị ngọt, vào năm khô hạn, giếng vẫn đầy.

Tương truyền là do nước ở nngã ba sông từ xã Tông Tranh huyện nhà ngấm về. Trên bờ có đền thờ thần Long Tỉnh rất thiêng. Mỗi khi trong làng ta khoa thi nào có người thi đỗ Tiến sĩ thì trước đó đều thấy có cá lớn nổi lên bơi lội trên mặt nước. Ngạn ngữ nói: “Tam Sơn (ở huyện Đông Ngàn, Bắc Ninh) rắn hiện, Mộ Trạch cá bơi”, ấy là niềm báo có người đỗ đạt (lại còn điềm yểng nói lắp nữa). Năm Mậu Tý niên hiệu Lê Cảnh Hưng [1768] bị hạn hán lớn, từ xuân qua hè thấy giếng cạn, thôn ta tập họp trai tráng phân công đào vét, mới sâu thêm 4 thước tức thì thấy mạch nước phun mạnh, nếm hơi có vị mặn, vậy là lời nói mạch từ Tông Tranh quả đúng.

Trong Tùng Hiên bát cảnh có bài Diên Phúc tuyền tỉnh như sau:

Phiên âm:

Phúc địa tuyền lưu đức trạch linh

Ngô hương tư dụng lợi dân sinh

Từ phong vi dạng thập phân hảo

Tuệ nhật quan hàm vạn hộc thanh

Khách đáo tĩnh quan kim sát ảnh

Tăng nhàn thời cố lộc lư thanh

Thi thư phương trạch nguyên lưu viễn

Tỉnh đạo vu kim triển đại thành

Tạm dịch thơ:

Giếng nguồn chùa Diên Phúc

Đất phúc mạch tuôn: ơn đức linh,

Làng ta riêng hưởng lợi dân sinh.

Từ bi một thoáng hương lan nhẹ,

Nắng chiều vạn gầu nước long lanh.

Khách viếng lặng soi hình tháp cũ,

Sư nhàn quay rọc tiếng thanh thanh.

Thi thư dòng cổ còn lai láng,

Như mạch giếng nay vẫn chảy nhanh.

Phụ lục:

Bài minh kèm lời tựa [bia] chùa Diên Phúc

Kinh Dịch, phần Truyện nói rằng: Dưới quẻ Khảm, trên quẻ Tốn là Tỉnh [giếng].

Mọi vật ở dưới mặt đất không gì bằng giếng. Thả tốn - mộc [gỗ, gầu] vào Khảm - thuỷ thì lấy được nước lên, ấy chính là Tượng [hình tượng] của giếng. Luôn có nước mà không đầy tràn, ấy là Đức vĩnh hằng [của giếng]. Múc thường xuyên mà không cạn, nước dùng xoay vòng, ấy là Đạo [của giếng]. Mùa đông vẫn ấm nhờ địa mạch, không bao giờ mất đi nguồn gốc thực, ấy là Tính [của giếng].

Bởi vậy ngày xưa hễ khi lập đô, dựng ấp, trước tiên phải xem xét âm – dương, bói tìm mạch giếng rồi mới định cư. Làng Mộ Trạch ta, ở phía Đông – Nam chùa Diên Phúc có cái giếng tròn, chu vi bốn mươi trượng mà sâu thì chừng nửa số đó. Nguồn nước giếng này thơm trong, khuấy lên cũng không vẩn đục, thổ nhưỡng tiếp với tầng đá phèn mà hoà không tan [vào nước giếng]. Gặp năm đại hạn hán nước vẫn không cùng kiệt. Thật là ở nơi phúc địa lại có thắng địa vậy! Há chẳng phải nhờ non sông hun đúc khí thiêng, mạch nguồn có căn bản mới được như thế sao? Người cùng muôn vật làng ta tấm thân, gội đức mà tạo ra phú trạch của người quân tử, chẳng phải bắt nguồn từ đó hay sao. Ta cũng sinh ra ở Mộ Trạch, lẽ nào không viết một bài minh[41] sao? Vậy nên có lời minh rằng:

Phiên âm:Tạm dịch thơ:

Mộ Trạch chi hương

Mộ Trạch làng xưa,

Thần duy danh hương

Nay đã nổi danh,

Diên Phúc chi tử

Có chùa Diên Phúc,

Giáp Tý thượng phương

Giáp Tý khánh thành.

Tự chi Đông – Nam

Đông – Nam chùa cổ

Tỉnh tuyền cam liệt

Có giếng trong lành,

Tồn chi bất danh

Nước đầy không tràn,

Cấp chi bất kiệt

Mà múc không cạn,

Ấp bỉ chủ tư

Rót đây trút đấy,

Lợi cập vạn sinh

Giúp ích sinh linh.

Thuỷ bất tại thâm

Chẳng sâu thăm thẳm,

Hữu tiền tắc danh

Có mạch lừng danh

Nguyên nguyên nhi lai

 Tuôn hoài chẳng hết,

Địa linh nhân kiệt

Nhân kiệt địa linh,

Ngã bút vu minh

Bút ta làm minh,

Dụng kỷ tuế nguyệt 

Lưu cùng năm tháng.

[Quán Tứ  Đạt]

Bên trái làng ta là Thăng Long, sinh thành mấy khúc.Gần đấy có quán Tứ Đạt (ở ngoài cửa Đông,chỗ xóm Sông Đồng Giảng Sách, gọi là Ngã Bốn) vốn là một nơi mùa đều tươi đẹp, hứng thú. Trong tậpTùng Hiên bát cảnh có bát Tứ Đạt thừa phong:

Phiên âm:

Nam Bắc Tây Đông đạo lộ thông

Tân đình nhàn toạ khả thừa phong

Đáo đầu trần luỵ đô vong khước

Chá thủ phiền hiêu tận tẩy không

Nhất chẩm hắt điềm nhiêu tự túc

Tứ thì giai hứng dữ nhân đồng

Ỷ lan ký ngạo tà dương ngoại

Tự vị Hy Hoàng thế thượng ông

Tạm dịch thơ:

Hóng gió ở quán Tứ Đạt

 Nam, Bắc, Tây, Đông đường xá thông,

Nhẩn nha ngồi quán đón hương đồng:

Ngập đầu tục tuỵ quên bằng hết,

Rát mặt buồn phiền trút sạch không.

Một giấc say nồng, riêng lão đủ,

Bốn mùa hứng thú, với người chung.

Tựa lan can ngắm tàn dương rực:

Chẳng kém Hy, Hoàng thuở mấy ông![42]

[Quán Đồng Quan]

Ở trước làng có quán Đồng Quan là nơi các bậc cao sĩ thường tụ hội, đàm luận kinh sách, mỗi dịp trời thu trăng sáng cũng ra đây thưởng ngoạn vui chơi. Trong tập Tùng Hiên bát cảnh có bài thơ Đồng Quan ngoạn nguyệt:

Phiên âm:

Hồng kiều ải ải thuỷ quyên quyên

Nhân tại lan can nguyệt tại thiên

Ngọc vũ lâu đài câu kiểu khiết

Băng hồ thế giới cộng thiền quyên

Thần du Tử Tấn thừa loan dạ

Hứng nhập Đông Pha mộng hạc niên

Thiên địa sơn xuyên quy nhãn để

Lam Kiều hà tất mịch thần tiên

Dịch nghĩa;

Ra quán Đồng Quan ngắm trăng

Cây cầu vồng thấp lè tè, dòng nước nông choèn

[Mà] có người tựa lan can, bởi ttrăng sáng trên trời:

Lầu đài ngọc ánh lên vầng sáng thanh khiết,

Vòm trời trong vắt như chiếc bìng băng thật tươi đẹp.

Hồn người phiêu diêu tưởng như Tử Tấn[43] trong đêm cưỡi hạc,

Thi hứng trào dâng tựa Tô Đông Pha[44] năm nào mơ hạc tiên bay qua.

Đất trời, sông núi tựa hồ thu được cả vào trong đáy con mắt,

Hà tất phải đến Lam Kiều[45] tìm thần tiên!

Bên phải làng là thế đất Bạch Hổ bầy ra 3 cái đống (tại địa phận Ngọc Cục, tiếp giáp với Hà Xá, tục gọi Ba Nấm), gần đấy có bãi cát Chi Long, vươn ra hộ vệ cho làng. Các vị Tiến sĩ mỗi lần từ kinh đô về, trong khi chờ dân làng nghênh đón, thường che lọng cắm dù ngồi chơi, phóng tầm mắt ngắm nhìn non nước, vui vẻ nói cười. Xưa có mộ cụ Tổ phát tích dòng họ của Trạng nguyên Lê [Nại] đặt ở đây, ấy là huyện đất linh thiêng đặt theo lời dặn của Hoàng Phúc[46] vậy. Trong tập Tùng Hiên bát cảnh có bài thơ Chi Long ỷ cái:

Phiên âm:

Kinh quốc quy lai trú cẩm vinh

Chi Long ỷ cái ánh phong tình

Giang sơn dịch động ưu du hứng

Phần tử nan thăng cố cựu tình

Thắng hữu như vân hoan vị dĩ

Cao bằng mãn toạ hấp tương nghinh

Ngô hương hiền nghiệp quan tiền trục

Vẫn sự tăng đa nguyệt đán bình

 Dịch nghĩa:

Tựa lọng trên gò Chi Long

Từ kinh đô đất nước trở về, rực rỡ áo gấm vinh quy,

Nơi Chi Long cắm lọng hóng gió ngày quan mây tạnh.

Non sông luôn đổi thay càng tăng hứng du ngoạn,

Tình cũ với quê cha đất tổ khó lòng quên được.

Bạn cũ quây quần đông đủ niềm vui không dứt

Bè bạn thanh cao tề tựu đầy quán cùng nghênh tiếp.

Nghiệp Nho của làng ta vẫn ạng rỡ theo dấu xưa,

Sự đỗ đạt ngày thêm nhiều – đủ cho làng tháng tháng bình phẩm[47].

[Quán Đống Gạch]

Xa chút nữa có quán Đống Gạch là nơi khách vãng lai nghỉ chân, cạnh có cây đa cổ thụ, cành lá um tùm rợp bầu trời. Gò đất ở đây cao và tròn. Xưa truyền rằng người nhà Minh giấu của tại đó, thường có con vịt vàng hiện ra, hễ thấy người thì chạy biến vào trong gò. Đã có người trong làng đào bới nhưng chẳng thấy gì. Trong Tùng Hiên bát cảnh có bài thơ Đống Gạch vân dung:

Phiên âm:

Đống Gạch cừ biên túng đại đê

Vân dung cổ thụ bán thiên tề

Ngân chu bàn kiết phong sương lão

Ngọc diệp bà sa vũ lộ đê

Hành khách hữu thì nhàn khế tức

Dã cầm hữu sở lạc u thê

Ngã lai dịch động Nghi Vu hứng

Bút để tân thi nhập phẩm đề.

Dịch nghĩa:

Cây si cạnh quán Đống Gạch

Bên kênh đào cạnh quán Đống Gạch nhô lên một bờ cao,

Tại đấy có cây si cổ thụ che rợp nửa bầu trời.

Cội rễ chằng chịt gội gió sương lâu năm,

Cành lá thướt tha trải bao mưa nắng.

Người qua đường dừng nghỉ thảnh thơi,

Bầy chim đờng nội có nơi đậu xuống vui hót.

Ta xưa nay vốn có cái thú xê dịch nơi non nước đẹp[48],

Vậy nên cầm bút thảo bài thơ góp vào ngâm vịnh.

[Bạch Công cừ]

Trước làng có dòng nước chảy ngang tên là Bạch Công cừ, tục gọi sông Đào. Vào đầu đời Hồng Đức [1470 – 1497] người làng là Hiến sát[49] Vũ Nhân Trung tâu xin với triều đình cho khơi thông dòng mương từ Đống Xuyết thuộc địa phận làng ta đến Hà Xá, tới tận Kênh Hai. Về sau trong đời Quang Thiệu [1516 – 1522] Thượng thư Vũ Cán cùng Thái giám Nguyễn Thế Ân tuân theo chiếu chỉ lại khơi từ Đống Xuyết đến tận xứ Cầu Sen xã Hoạch Trạch cho dòng nước lưu thông. Ven sông có bến đò, có hòn Đá Buộc Voi, người đời sau nhân đó bầy ra trò du chơi đêm trăng trên sông Đào.

Phụ lục:

Bài ký về trùng tu kênh đào Mộ Trạch

Nay xét về xuất xứ của kênh dẫn nước, thì từ ông Bạch đời Hán đã đào kênh tưới ruộng vườn, bởi vậy mới gọi là Kênh Ông Bạch. Sau, mọi người đều làm theo, thu  được nhiều lợi. Việc đào kênh mương bắt đầu từ đó. Làng Mộ Trạch ta ruộng thấp đất ẩm, gọi là đồng trũng, nhưng lại xa cách sông ngòi. Gặp năm hạn tức khắc có mối lo khô cạn, phải lúc mưa nhiều lại có cái hoạ ngập úng, khiến dân tình khốn khổ. Tháng 10 mùa đông năm Ất Mùi niên hiệu Hồng Đức thứ 6 [1475], ông bác ta là Hiến sát sứ Đông Hiên vũ Nhân Trung tuân lệnh triều đình khơi dòng, trên từ Đống Xuyến dưới đến Hà Xá, Đường Hoàng, tới tận Kênh Hai. Rồi lâu nay bị xoí lở, dòng nước nghẽn tắc.Tháng 2 mùa xuân năm Kỷ Mão niên hiệu Quang Thiệu thứ 4 (15190, ta cùng Thái giám Lỵ quốc công Nguyễn Thế Ân[50] tuân chỉ tập hợp dân phu trong huyện sửa sang, khởi thông từ Đống Xuyết đến Liên Kiều, Hoạch Trạch, thông tới tận Hồng Trâu, kiến hai nguồn nước giao lưu theo thuỷ triều lên xuống. Mùa hè có nước tưới, khỏi nổi lo khô cằn,mùa mưa nước có lối thoát, tránh được hoạ úng ngập.Từ đấy đồng ruộng ấp Trạch theo thời mà trồng trọt. Kênh đào làm lợi nhiều lắm thay!

Ôi! Có lời xưa rằng: người có lòng nhân biết yêu thương con người,vì thế mà ghét cái điều làm hại con người, kẻ trí thức phải biết “hành” ở nơi tưởng chừng như vô sự. Nay kênh đã được khai thông và sửa sang, ấy chính là khơi dẫn đường nước để mưu lợi cho dân. Người sau nếu có làm, thì càng nên thôi thúc cái tâm ái nhân, cái tính thuận thuỷ, sao cho phúc trạch tuôn chảy không cùng . Đó chính là hoài vọng sâu xa của ta vậy.

[Quán Kỳ Anh]

Trước mặt làng còn có thế đất “Ngũ mã củng triều” (năm ngựa chầu về), sao Văn Xương làm án. Gần đó có quán Kỳ Anh (mé ngoài cổng phía nam), nơi chư vị quan lớn đã về trí sĩ cùng đám thiếu niên anh tuấn thường mở hội “nghiêng dù” [gặp gỡ] vui chơi thanh thản. Gần đây, cứ đến khoa thi Hương, đây cũng là nơi xã ta khảo hạch các sĩ tử. Có bài tán của Thượng thư bộ Công Đường Xuyên tử [Vũ Duy Đoán] rằng:

Núi chẳng cần cao,

Có tiên nổi danh;

Nước chẳng cần sâu,

Có rồng thì linh.

Quán này nên chuộng,

Bởi hội Kỳ Anh…

[Quán Linh Ứng]

Tại hướng Tốn có thế đất “Tể tướng bút” (dài ước 30 trượng, rộng độ 4 – 5 sào). Rễ cây trông như giá bút. Nơi đây {Thái giám triều Mạc} Lỵ quốc công Nguyễn Thế Ân (người thôn Hạ) từng dựng quán, đúc chuông để thờ Đạo giáo, đặt tên là quán Linh Ứng, khởi công năm Kỷ Mão niên hiệu Lê Quang Thiệu thứ 4 [1519] đến năm Thống Nguyên thứ 2 [1523] thì hoàn thành. Sau khi ông mất, người làng thấy quán này trấn ở phương Tốn [Đông – Nam], bèn vung búa rìu trong chớp mắt phá tan tành, chuông thì đem về chùa thôn Hạ. Trong Tùng Hiên bát cảnh có bài thơ Linh Ứng xao chung:

Phiên âm:

Chân cảnh huyền hư ngọc động thâm

Hồng chung nhất khấu hống kình âm

Sương thiên điều đệ tài doanh cốc

Nguyệt dạ hu từ hựu mãn lâm

Ỷ chẩm phong phong thanh khách nhĩ

Tẩy trần sái sái quýnh Thiền tâm

Thiện duyên cảm phát nhân hàm duyệt

Lịch kỷ triêu huy hựu tịch âm

Dịch thơ:

Tiếng chuông quán Linh Ứng

Động ngọc mơ hồ lẩn cảnh thường,

Chầy kình đâu gióng một hồi chuông,

Canh khuya rừng rậm trăng ken ánh,

Buổi sớm hang xa đáy đầy sương.

Dựa gối thanh tao tai khách lắng,

Khác đời gột rửa cửa Thiền vương,

Duyên may cảm phát nhường thương tiếc,

Hết sáng bi boong, tối lại boong.

(Cụ Vũ Huy Chân dịch)

Phụ lục:

Bài ký về quán Linh Ứng

Cái đạo gọi là Lão ấy, xưa nay vẫn được chuộng lắm vậy. Từ Lý Lão quân[51] đời Chu đến Âm (?) Đạo Lăng[52] nhà Hán, đời Đường là Đỗ Quang Đình[53], đời Tống là Trương Càn Diệu[54], có khá đông người theo, nơi tu gọi là viện, là tự, là quán. Người mộ đạo vì lòng thành mà cúng tế. Như quán Linh Ứng này, do ông Thái giám họ Nguyễn, người làng Mộ Trạch huyện Đường An, dựng lên. Ông tên Thế Ân, thuộc giáp tộc làng ta. Đời trước của ông là Tổng tri, tặng Đô đồng tri Nguyễn Thích vốn theo Đạo giáo  nên đến ông cũng hiểu sâu về đạo này. Ông sớm vào hầu trong cung, sớm hôm trung thành, cần mẫn, được Bề trên cậy trông nên làm đến Chưởng giám. Gặp lúc nước nhà có loạn nghịch Cảo[55], ông vâng lệnh ra trấn giữ, tuyển mộ hương binh, đóng ở xứ Đồng Quan làng ta, thể với trời đất quyết một lòng diệt giặc, lần nào cầu đảo cũng linh ứng, trước sau đều thắng trận, dân chúng trong vùng nhờ vậy mà được bình yên. Há chẳng phải thần linh chứng giám cho lònh thành kính, ngầm phù trợ mà được như vậy chăng? Bình xong lũ giặc, ông bèn ở lại đây, cùng đồng liêu là các ông: Nguyễn Thế Nho, Vũ Dự, Phạm Bá Liêu, Nhữ Đức Bang, Lương Cối, Trương Các, Vũ Đình Hựu góp công của dựng quán, khởi công từ ngày 24 thántg 3 năm Kỷ Mão niên hiệu Quang Thiệu thứ 4 [1519] đến ngày 15 tháng 12 năm Kỷ Mão niên hiệu Thống Nguyên thứ 2 [1523] thì hoàn thành, làm biển đề Linh Ứng quán, cũng bởi linh ứng mà đặt tên như vậy.

Đạo quán này bên tả thu nước Liên Khê, bên hữu đổ ra Ngọc Cục, mặt trước cận Nhữ Xá, phía sau gối My kiều. Làng thôn san sát, ruộng như bàn cờ, đường thẳng như tên, nước kênh tẻ chảy quanh, quán dựng chính giữa. Trong quán có điện thờ, trước điện là nhà thiêu hương, hai bên tả hữu xây hành lang, sau hành lang là nhà bếp, trên lầu treo chuông; cỏ cây xanh um. Tường vách vây bọc, bôi vẽ trắng đen theo kiểu đạo pháp. Bốn phía đào hào, vào phải qua cầu. Gió lành thổi đến mà bụi trần không vương, thật là một bầu trời riêng vậy!

Ngày ông về hưu, mặc đồ nhà quê, đầu đội Tinh quan, cùng các đạo sĩ giảng kinh, thắp hương cầu đảo, ngửa trông trời quang mây tạnh giáng hạ. Lại khắc in sách kinh Đạo giáo, cấp ruộng Tam bảo. Công ấy, đức ấy được chúng dân một phương cảm mến.

Vui về làm việc Thiện, vun trồng cây Đức, Đạo giáo làm được việc này, ích lợi đâu phải nhỏ. Tuy nhiên, đạo gửi ở “tích”, truyền nhờ “tâm”, cầu được đạo không phải ở dấu tích mà ở tấm lòng, như vậy là Đạo ở quanh ta trong gang tấc đó. Người đời sau mỗi khi thấy đạo quán này thì nên bồi dưỡng thiện tâm  mà truyền mãi vô cùng, chớ đừng khiến cho điều xây dựng chỉ là mỹ quan mà thôi.

Ta vốn dòng Nho gia, nhưng được nghe đến Đạo giáo cũng lấy làm vui thích, bèn ghi thực mấy dòng cho khắc vào đá đặng lưu truyền mãi mãi.

(Nay xét[56]: từ năm Kỷ Mão niên hiệu Quang Thiệu thứ 4 [1519] đến năm Mậu Tý niên hiệu Cảnh Hưng thứ 29 [1769] cộng là 250 năm).

Ở hướng Đinh, có Bút Trạng nguyên (dài 20 trượng rộng 1 sào), bên cạnh có Nghiên mực. Xưa, Trạng nguyên [1505] Lê [Nại] có dựng một gian quán ven đường làm nơi hóng mát, tục gọi là Cầu Ông Trạng. Về sau ông Hoàng giáp [1634]Tự khanh Huân Trạch bá Vũ Bạt Tuỵ làm bài tán (bằng âm Nôm mà mỗi câu đều có tên gọi một xứ đồng làng ta) như sau:

Yêu thay Cầu Ông Trạng!Yêu thay Cầu Ông Trạng !

Giữa đất Ngõ Trung, trên Đồng Thôn Thượng,

Bút Đống Buồm bày trước Tốn phương [Đông- Nam],

Bảng Thầy Lai treo trên Càn hướng [Bắc –Tây].

Ngựa Đồng Ích dắt lại dập dìu,

Dù Đóng Gạch dương lên thấp thoáng.

Nẻo vinh quy xa Búi Anh Vàng,

Tin đưa lại gần Kè Bà Bảng.

Quạt Vả đã trước quảy Nam hành,

Ngựa Sử lại sau trông Bắc vãng.

Gần xa cứ đấy nghỉ ngơi,

Ai nấy nghe danh mến chuộng.

Phía sau làng có thế đất Bảo Cái [lọng quý] dẫn mạch, Thất Tinh [bẩy sao] hộ mạch, có 3 phiến Thuỷ tinh sa, tục gọi là xứ Mả Miễu, gò đống quanh co, ở giữa có nhiều ngôi mộ cổ, là ngôi đất cát cục tiếp phúc. Một ngôi mộ là của An phủ sứ triều Trần cụ Độn Trai Vũ Bá Khiêm. Phiến giữa nhô cao tục gọi Mả Đột, phía trước có thế đất Thiếp thuỷ làm minh đường (tục gọi Thiên tâm),  lấy hình chữ nhật làm án, (tục gọi là Thổ thiệt [lưỡi đất]), một bên có thế Dưỡng long thuỷ (tục gọi là Hồ lô), phía sau gối cờ, trống, Cấn long, Mão sơn, Dậu hướng. Đó là tổ mộ của công đồng chi V Truy viễn đường. Lại một mộ nữa ở chỗ Thiếp thuỷ Thiên tâm, cùng Sơn hướng, là mộ iếp phúc của phái Kỷ làng ta của các Tiến sĩ Vũ Công Bình, Vũ Huy Đỉnh. Lại có ngôi mộ ở phiến trong, nổi lên giữa khu trũng, táng ông Đình uý triều Lê Tổn Trai Vũ tướng công huý là Phong, phía trước có miên cung nằm ngang làm án, phía sau có Quỷ “hiếu thậun”, lấy Thất tinh[bẩy sao] làm gối, Xích sà [rắn đỏ] bao quanh, Ngư đại [cái túi cá] ở bên Đoài [phía Tây], Hợi long, Não sơn, Dậu hướng. Đây là mộ Tổ tiếp phúc cho chi V thuộc “tiền ngũ chi” Lệ Trạch đường. Chếch về Bắc có ngôi mộ táng phu nhân của quan Tham đốc Đề lĩnh tại xứ Long thuỳ nhũ [vú rồng], nội đương là Chưởng tâm thuỷ (tức hình Hồ lô), bốn mùa không cạn, lonh hổ giao nhau, phía trước có Thôi quan làm án, phía sau gối cờ, trống. Đó là mộ tổ tiếp phúc cho chi ba Hiển Đức đường. Một ngôi mộ nữa ở gò ngoài của Vũ công, tự Huyền Ân và phu nhân, hai bên nách mở thế Phượng nhãn [mắt phượng], xuất sứ mã (ngựa đi sứ) ở phía Nam, phía trước có ấn vuông làm án, phía sau có Não thuỷ. {Đó là mộ Tổ phái Đinh làng ta, tức Trường Xuân đường của các Tiến sĩ Vũ Công Đạo, Vũ Công Lượng. Thời gần đây có người gọi xứ Mả Miễu là “Tiến sĩ sào” [ổ Tiến sĩ] và theo Hương ước cũ của làng thì nếu không phải là người trong tộc Vũ ta, không được an táng tại gò cát giữa ở xứ Mả Miễu này}[57] .

Tại hướng Càn Hợi có gò Xung thiên, tục gọi gò Trâu Vàng, cao lớn mà tròn, trấn giữ hướng Tây - Bắc của làng ta, ứng nghiệm việc dân làng nhiều người được hưởng tuổi thọ cao. Từ xưa truyền lại rằng, thuở trước hễ vùng non sông phía Nam vỡ đê, người ta lại dắt trâu bò lên lánh nạn ở đây.

Ở hướng Tân Tuất có các thế đất Tể tướng bút, Xâm thuỷ bút, tục gọi là đồng Chúc Bút. (Từ xưa truyền lại rằng có một thầy phong thuỷ giúp: người làng này táng mộ tổ ở thế đất Bút căn [gốc bút], gối đầu vào thế đất hìng Nghiên mực, Thầy bảo đây là thế đất tốt, nhưng hiềm một nỗi vì có Hổ thuỷ chảy xuôi nên việc phát Thượng thư phải ở ngoại quốc. Sau này con nhà ấy ở Ái châu, tên là Chiêu Năm vào sống ở Quảng Nam. Chúa Đất Quảng[58]  mến tài cho làm Thượng thư, gọi là Thượng Chưởng. Gặp khi quốc vương ngự giá Nam chinh[59]. Hồi ấy Vũ Duy Đoán chưa đỗ Tiến sĩ, mới là Giải nguyên được phụng mệnh theo hầu, làm Nội tướng tham tán nhung vụ. Thượng chưởng có gửi đến ông và biếu một hũ mắm ếch. Ông Đoán nhân đó có khuyên nên quy thuận [chúa Trịnh], nhưng người ấy dẫn việc anh em Gia Cát [Lượng và Cẩn] cũng từng “phân mhậm” mà không theo về).

{Gần đấy có Hoàng Oanh quán, nền luỹ rộng rãi, non nước bao quanh. Trước kia tại đây, mội khi sắp mở khoa thi Hương, làng ta cũng thường sát hạch những người đi thi. Thượng thư Nhất Thuỷ Vũ tướng công [Huy Liễu] trong tập Thập cảnh thi có bài Cựu quán khảo văn (xin xem ở nguyên tập), là nói về nơi này.

Ở ngoài cổng làng phía Tây có một hồn vuông khoảng 1 mẫu, giữa mặt hồ nổi lên 3 đảo nhỏ (Tam Thai). Mỗi khi trời thu nước lặng sóng yên, gió mát trăng thanh, chư vị công khanh lại tụ hội du chơi trên thuyền. Trong Thập cảnh thi có bài Thai hồ dạ nguyệt (thơ cũng xin xem ở nguyên tập).

Bên thôn Tây nhà cửa san sát, cây cối xanh um. Những buổi gió ngừng cây lặng, trông cảnh như giao hoà với các cây cổ thụ ở chùa Diên Phúc. Thập cảnh thi lại có bài Tây cương tình thụ [cây lặng bên sườn Tây] (cũng xin xem ở nguyên tập).

Phụ lục: Mục lục tập thơ Tùng Hiên bát cảnh

-Lâu đài cổ miếu [Toà miếu cổ]

-Truy Viễn kiều tùng [Cây tùng cao ở Truy Viễn đường]

-Diên Phúc tuyền tỉnh [Giếng nguồn chùa Diên Phúc]

-Linh Ứng xao chung [Tiếng chuông quán Linh Ứng]

-Đồng Quan ngoạn nguyệt [Ra quán Đồng Quan ngắm trăng]

-Tứ Đạt thửa pgong [Hóng gió ở quán Tứ Đạt]

-Chi Long ỷ cái [Tựa lọng trên gò Chi Long]

-Đống Gạch vân dung [Cây si cạnh quán Đống Gạch]

Mục lục tập thơ Nhất Thuỷ thập cảnh

-Đại đình xuân thưởng [Vui xuân ở đại đình]

-Diên Phúc đàm thiên [Đàm đạo về Thiền ở chùa Diên Phúc]

-Kỳ Anh hội lão [Quán Kỳ Anh tụ hội bô lão]

-Cựu quán khảo văn [Khảo văn ở quán cũ]

-Ngọc tỉnh ngư phù [Cá lội giếng ngọc]

-Hồi sơn long phượng [?]

-Đông thị vãn yên [Khói chiều chợ Đông]

-Tây cương tình thụ [Cây lặng mé Tây]

-Thai hò dạ nguyệt [Trăng đêm trên hồ Tam Thai]

-Đào giang phiếm kha [Bơi thuyền trên sông đào]}[60]

Mộ Tổ phát tích

Tại xóm Viên Phụ xã Man Nhuế huyện Thanh Lâm phủ Nam Sách tỉnh nhà có ngôi mộ tục gọi Đống Rờm, Tốn long, Ất sơn, Tân hướng, tổ khởi Tam thai [Tam công], mạch hành chữ Vương, địa thế quanh co, phía trước có sông Lục Đầu làm án, phía sau có ba cồn cát Sở giang làm gối, trăm gò nhấp nhô bao bọc, hai dòng nước ôm nhau. {Tương truyền thế đất ấy chính là nơi Đại vương khi sang nước Nam ta đã đem hài cốt gia tiên cát táng làm phúc địa cho con cháu được đời đời hưởng phúc. Vào buổi giao thời Lý - Trần mộ bị thất truyền. Đến Lê Sơ}[61]có quan Tham chính Trần Xuân Yến (người xã An Lạc huyện Thanh Lâm[62]) được thầy phong thuỷ Nguyễn Trọng Diệu dẫn tìm cát địa để táng mộ gia tiên, khi đến chỗ này đào sâu xuống thì gặp một chí bằng đá khắc dòng chữ “Đường An huyện Khả Mộ xã Vũ thị Tổ mộ”[63] nên báo cho biết. Từ đấy hàng năm người làng ta sửa lễ đến, quét dọn, nhận để trông coi đời đời. Nay xem di cảo còn viết: “Lựa được gỗ tròn, danh khôi đa sĩ, tìm nhận đúng nơi, con cháu đều được tốt đẹp”, thực có ứng nghiệm vậy.

Khắp làng ta đều là hậu duệ của Đại vuương, tuy phân thành chi phái, nhưng thảy là những gia tộc nhiều đời khoa bảng. Khoảng đời Thịnh Đức {1653 – 1657} – Vĩnh Thọ {1658 – 1661}, vào lúc cực thịnh, khoa thi Xuân (1656) có 6 người đỗ cùng bảng thì làng ta chiếm liền 3 Tiến sĩ (Vũ Đăng Long, Vũ Công Lượng, Vũ Trác Lạc); khoa Kỷ Hợi {1659} lại trúng liền 4 Tiến sĩ (Vũ Cầu Hối, Vũ Công Đạo, Vũ Duy Hài, Lê Công Truều), còn như đỗ 1 –2 người liên tiếp các khoa đều có. Được trọng dụng trong một triều đình có đến 14 đại khoa, 4 vị bậc sư phó, công thần (Trung quận công Vũ Tự Khoái, Phương quận công Vũ Duy Chí, Hương quận công Vũ Phương Trượng, Lộc quận công Vũ Đăng Dụ), tổng cộng là 18 vị.

Lúc ấy có ông Cao Quỳnh, cháu 17 đời của Cao Vương  [Biển] đến nước Nam, xem khắp các danh địa, khi qua cổng làng ta, chỉ tay nói mọi người: “Chỗ này là ổ Tiến sĩ đó”. Năm Quý Sửu đời Lê Dương Đức năm thứ nhất [1673], ông Vũ Duy Hài với người em họ Vũ Công Đạo cùng vâng chỉ đi sứ sang nhà Minh, hẹn nhau việc sứ bộ, sẽ đi Phúc Kiến một phen dò tìm nhận tông tộc họ Vũ, Nhưng rồi gặp phải giặc giã trở ngại, đành quay về theo đường thuỷ nên không thực hiện được. Đến đời Vĩnh Trị [1676 –1704] người xã Thổ Hoàng huyện Thiên Thi là Thượng thư Hoàng Công Trí vâng chỉ đi sứ sang Bắc, có một lão họ Vũ đón đường hỏi: “Ông là sứ thần An Nam, hẳn biết các danh gia vọng tộc của nước mình, chẳng hay đám hậu duệ họ Vũ chúng tôi bên ấy công danh ra sao?” Ông Trí bèn kể ngọn ngành cho Cụ rõ. Ông lão luôn miệng thốt lên: “Hảo! Hảo!”, rồi nhân đó tiếp lời: “Họ Vũ chúng tôi bên Thiên triều này cũng đời nối đời đăng khoa, vẫn được hiển đạt”. Người đời nói: “Trời Nam khoa bảng, Mộ Trạch chiếm nhiều”, ấy bởi chính khí Bắc phương truyền đến đã lau đời vậy.

Trong đời Vĩnh Thịnh [1705 – 1718] ông Vũ Đình Ân đỗ Tiến sĩ, có ông Thám hoa huyện nhà (người xã Đan Loan) là Vũ Thạnh[64] mừng bức trướng với bài thơ:

Bát bách niên lai đạo mạch trường

Danh khoa thạc vọng thế tương vọng

Cao tằng vân nhĩ huân hiền kế

Tước lộc khoa danh ấm trạch quang

Bát diệp Tiêu môn danh vị kiệt

Tam hoè Vương thị tích kham phương

Phô trương mạc tận quân gia sự

Bút để thì văn hàn mặc hương

Dịch thơ:

Ngàn năm đạo đức mạch truyền gia

Đời dõi vang lừng tiếng đại gia

Sự nghiệp tổ tiên đà kế thế

Văn chương cháu chắt nối đăng khoa

Tiêu đình lá ngọc khoe tròn tám

Vương thị sân hoè sánh đủ ba
Cảnh đẹp nhà ông phô chẳng xuể

Ngạt ngào hương mực khắo xa.

(Bản dịch của cụ Nguyễn Đình Diệm in trong sách Công dư tiệp ký, Sài Gòn xuất bản xuất bản 1962)

*Nguyên văn: “bát bách” (tám trăm năm)

Xưa kia chi phái [họ ta] đông đúc, nhưng phần nhiều đã di cư đến các quê khác. Một số người thuộc hệ gần cận mà sự tích cũng minh bạch, lớn thì đăng khoa hiển đạt như ông Xuân Lan[65] [Vũ Miên] ở huyện Lương Tài, thứ nữa thì cũng do đường học hành mà nên quan như ông Xuân Hy[66] ở Kim Anh [67], chí ít thì cũng thuộc hàng hào trưởng, phú hộ như ông Nhật Hy ở Giao Thuỷ[68], ông Quỳnh Khê ở Kim Thành[69], đều về nhận nhau là họ hàng. Khoa thi Hội năm Mậu Thìn [1748] ông Bồi tụng Xuân Lan  Vũ Miên đỗ Hội nguyên Tiến sĩ, huyện ta mừng bức trướng:

Triệu thuỷ tích tòng Đông Mộ Trạch

Thành danh kim thị Bắc Lương Tài

Xin tạm dịch:

Mở đầu xưa từ Mộ Trạch trấn Hải Đông

Thành danh nay ở Lương Tài xứ Kinh Bắc.

Gần đây ông Xuân Hy Tả đề điếm Vũ Hữu Xuân có đệ trình Tiến sĩ Tham chính Xuân Trạch hầu [Vũ Phương Đề] một bài thơ Đường luật <…>. Ông lại làm bài thứ hai cùng vần <…>. Hội nguyên Xuân Lan Vũ Miên có bài hoạ nguyên vận <…>. Tiến sĩ [1754] Vũ Huy Đỉnh hoạ tiếp <…>.

Khoa thi Hương năm Đinh Mão xã Nhật Hy huyện Giao Thuỷ [Nam Định] đỗ liền 3 người, họ ấy tự nghĩ nhờ phúc xưa để lại mà được như vậy bèn về quê gốc làm lễ tạ, cúng tế và tặng thơ. Tộc ta tặng lại hai bài, bài thứ nhất họa nguyên vận bài của ông Xuân Hy[70]<…>. Bài thứ hai dùng Quốc âm [Nôm]:

Nẻo xưa tú khí cấu[gây dựng] từ Đông [Hải Đông]

Chi diệp tuy khơi [xa khơi] vốn cùng [cùng] dòng

Của có điền viên [ruộng vườn] nhờ Tổ ấm [phúc]

Thảy đều huyền tụng [đọc sách] nhắc Nho công

Hàng chen khoa đệ từng phương dự [tiếng khen]

Dẫu dõi y quan rỡ [rực rỡ] chính tông

Báo bản [báo đáp cội nguồn] chẳng quên niềm kính tín

Họ ta cường thịnh phúc trùng trùng.

Người dịch: Nhà giáo ưu tú Vũ Thế Khôi


 

(1) Nguyên văn ghi: Quyển nhất. Chúng tôi căn cứ văn bản gia phả phát hiện ở địa phương sửa lại thành Quyền thượng để thống nhất với tên gọi Quyển hạ của phần gia phả Bát phái.

(2) Trong nguyên bản chữ Hán có lẽ thiếu chữ “bát”; đúng ra phải là “bát thập nhị” (82 năm)

[3]  Theo cách tính niên đại tương đối (25 – 30 năm/1 đời), Vũ Dự sống khoảng hai thập kỷ cuối thế kỷ XV - nữa đầu thế kỷ XVI, tức đây là tài liệu phả cổ nhất của họ Vũ Mộ Trạch còn truyền lại được khi Vũ Phương Lan cùng 3 vị nữa trong họ bắt đầu hợp biên tộc phả vào năm 1767. Sách Công dư tiệp ký (Ghi nhanh lúc rảnh việc công) của Tiến sĩ Vũ Phương Đề, cũng người trong họ này, viết năm 1755, có nhắc đến việc 2 anh em ông Vũ Nghiêu Tá và Vũ Nông sau khi cùng đỗ Thái học sinh năm 1304, làm đến chức Nhập nội hành khiển dưới đời vua Trần Minh Tông (1314 – 1329), đã biên soạn gia phả. Tuy nhiên, các tác giả Mộ Trạch Vũ tộc thế hệ sự tích không hề nhắc gì đến việc làm phả của anh em Nghiêu Tá.

[4] Chỉ sách Công dư tiệp ký

[5] Cao Đô hộ: tức Cao Biền được nhà Đường cửa sang làm An Nam Đô hộ sứ năm 866, tức sau Vũ Hồn 23 năm. Ông có công đắp rộng La thành, gọi là Đại La, đánh bại quân Nam Chiếu từ Vân Nam tràn xuống cướp phá Giao Châu; tương truyền rất giỏi phong thuỷ (theo sách Việt điện u linh, 1329).

[6] Hán Sĩ vương: tức Sĩ Nhiếp, làm Thái thú Giao Châu dưới triều Hán Vũ đế từ năm 187 đến 226, có công truyền bá chữ Hán và Nho học, nên được tôn là “An Nam học tổ”, cùng Chu Văn An được thờ theo ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám Thăng Long. Đại Việt sử ký toàn thư chép thời ông trị vì thành “Kỷ Sĩ vương” và đánh giá “là bậc vua hiền”; hiện nay vẫn còn đền thờ ở huyện Thuận Thành, Bắc Ninh (thủ phủ Luy Lâu xưa).

[7] Tân Dương là một huyện ở Sơn Đông (Trung Quốc), có họ Tân hiển hách nhiều đời như Tân Giáp, đại thần của vua Trụ nhà Thương, Tân Khánh Kỵ, Tả tướng quân của Hán Thành đế.

(4) Tiêu Hà là Tể tướng của Hán Cao Tổ; Đậu Vũ Quân phò tá Hán Linh đế lên ngôi, sau đó được phong Đại tướng quân Phụ chính đại thần.

(1) Đó là khoa thi Hội năm 1656, cả nước chỉ lấy đỗ 6 Tiến sĩ thì riêng họ Vũ làng Mộ Trạch chiếm 3 người là Vũ Trác Lạc, Vũ Đăng Long và Vũ Công Luợng. Sau này vua Tự Đức xem sách Đăng Khoa lục, đọc đến đây đã bút phê: “Nhất gia bán thiên hạ” (một nhà bằng cả nữa thiên hạ)

[8] Thị thảo: công việc đính sửa lại những chiếu dụ của vua trước khi ban bố.

[9] Nguyên văn: “triết tú hạm” (bẻ gãy lan can đẹp). Điển tích: Hòe lý lệnh Chu Vân đòi chém gian thần An Xương hầu, khiến Hán Thành đế nổi giận hạ lệnh lôi ông ra ngoài giết, Chu bám vào lan can trên điện tiếp tục tố cáo gian thần, làm gãy cả lan can, sau được Tân Khánh Kỵ xin cho miễn tội chết.

[10] Chu Văn An và Lê Cảnh Tuân là hai vị trung thần đời Trần: Văn An nổi tiếng với “Sớ thất trảm”, đòi Trần Dụ Tông chém 7 nịnh thần; Lê Cảnh Tuân có bức “Vạn ngôn thư’ gửi Tham nghị Bá Kỳ, chủ trương chống lại người Minh, khôi phục nhà Trần . Vì bức thư này ông bị người Minh bắt giam ở ngục Kim Lang cho đến chết.

[11] Trần Nhu Tử - Trần Bình: mưu sĩ của Hán Cao Tổ, giỏi dùng kế phản gián, sau làm đến Tả Thừa tướng.

[12] Có lẽ nhầm: Thức Trai là hiệu của Vũ Hiệu, không hề làm quan võ; hiệu của Vũ Dực là Hằng Trai.

[13] ) Nguyên văn  “Hoàn Ngũ Canh” - tức Hoàn Vinh (? – 59) tự Xuân Khanh , người Bái Đô đờI Đông Hán. Xuất thân là Giáo thụ Cửa Giang, nhờ giỏi kiến thức nên đến năm 63 tuồi được vời làm Nghị Lang vào phủ Đại Từ đô dạy Thái tử và giảng giải kinh sách cho các quan trong triều, sau thăng làm Thái tử Thiếu phó, được vua Hán Minh đế hết mực kính trọng, tôn làm sư thầy. năm Vĩnh Bài thứ 2 (năm 59) được tôn vào hàng Ngũ canh, tước quan Nội hầu. Ngũ canh chỉ những người cao tuổiđã nghỉ hưu nhưng giàu kinh nghiệm giỏi kiến thức. (Hán thư, q. 37).

[14] Tiêu, Tào: Tiêu Hà và Tào Tham là hai mưu thần nổi tiếng, nối nhau phò tá Hán Cao Tổ; Phòng; Đ ỗ: Ph òng Huy ền Linh và Đỗ Như  Hối  đều là những danh t ướng đ ời  Đường.

[15] Âu ,Tô, H àn, Li ễu: Âu Dương Tu và Tô Đông Pha là văn hào và thi hào đời Tống; Hàn Dũ và Li ễu Tông  Nguyên là hai đại gia văn chương đời Đường.

(1) Vũ Quý Hầu  là Vũ Huy Đĩnh, đỗ tiến sĩ năm 1754, cũng là vị đỗ đại khoa cuối cùng của làng Mộ Trạch. Bản M.Tr-A còn ghi ở cuối lạc khoản bài Tựa này: “Tứ Giáp Tuất khoa Tiến sĩ đệ Thiêm sai Trị thị nội như tả Công phiên Vũ Di Hiên đính chính”.

[16] Cách diễn đạt không kiêng kỵ khi đề cập đến tên huý, tức chỉ tên huý là Hồn

[17] Việt sử lược (VSL) và Đại Việt sử ký toàn thư (ĐVSKTT) đều không ghi điều này. Thứ sử là chức quan giám sát việc chính trị ở một tỉnh hoặc một quận (theo Từ hải).

[18] Vũ Hồn: về người sang thay Hàn Ước đứng đầu phủ đô hộ VSL chỉ ghi: “Vũ Hồn người thời Vũ Tông nhà Đường”. ĐVSKTT ghi theo sách Tân Đường thư, chi tiết hơn: “Tân Dậu, (Đường Vũ Tông Viêm, Hội Xương năm thứ I) [841]: Nhà Đường xuống chiếu lấy Vũ Hồn làm Kinh lược sứ thay Hàn Ước, Quý Hợi, (Hội Xương năm thứ 3) [843]: Kinh lược sứ Vũ Hồn bắt tướng sĩ đắp phủ thành, tướng sĩ làm loạn đốt lầu cửa thành, cướp kho phủ. Hồn chạy sang Quảng Châu. Giám quân là Đoàn Sĩ Tắc dẹp yên được bọn làm loạn”. Chưa thấy một sử liệu nào ghi chép số phận của Vũ Hồn sau đó ra sao.

[19] Bản M.Tr-A không có câu này, từ đây dấu […] báo hiệu câu chữ không có trong bản M.Tr-A.

[20] Cao Biền: Làm An Nam Đô hộ sứ từ 866 đến 876, tương truyền ông là một thầy địa lý giỏi.

[21] Bản M.Tr-A viết “Kim Hoa” (chữ “Hoa” không viết kỵ huý).

[22] Đường An (huyện): Trong sách Vũ trung tuỳ bút, Phạm Đình Hổ căn cứ sách Đường Kỷ, cho rằng tên huyện Đường An có lẽ có sớm hơn, từ đời Đường Đức Tông (780 – 805).

[23] Lời tựa (1769) không nói có Tông dẫn đồ nguyên bản; Bản M.Tr-A không có tiểu chú này

[24] Bản M.Tr-A, thay cho cả đoạn chi tiết này, chỉ viết 1 câu: “Long Đức ngũ niên, Vĩnh Hựu tam niên tuế tại Đinh Tỵ phong vi Trung đẳng thần”; số lượng và các mỹ tự được liệt kê trong từng sắc phong có sự xuất nhập; cũng không thấy ghi các sắc phong từ năm 1767 về sau đến triều Nguyễn.

[25] Câu này cho phép khẳng định bản Mộ Trạch Vũ tộc thế hệ sự tích mang ký hiệu A.3132 chỉ là một bản saotừ bản phả được tục biên sau năm 1859 rất nhiều, chí ít là từ đời Nguyễn Thành Thái (1889 – 1907) trở về sau: trong văn bản không tuân thủ nhất quan việc viết kỵ huý chữ “Tông” là huý vua Thiệu Trị (Miên Tông) và chữ “Thì” là huý vua Tự Đức (Phúc Thì), mà điều này theo Ngô Đức thọ (Chữ huý Việt Nam qua các triều đại) chỉ mới xảy ra từ đời Thành Thái, sau khi thực dân pháp đã áp đặt được nền thống trị trên toaà lãnh thổ Việt Nam.

[26] ) Thì Cử: một làng lân cận Mộ Trạch, từ năm 1848 do kỵ huý vua Tự Đức đổi thành Tuyển Cử.

[27] Nhan đề trong ngoặc vuông là do người dịch đặt ra.

[28] Tùng Hiên: là tên hiệu của Hoàng giáo khoa 1502 Vũ Cán; chùm 8 bài thơ ông vịnh cảnh làng Mộ Trạch, do giá trị đặc biệt như một thư tịch địa chí văn hóa đầu thế kỷ XVI nên chúng tôi cố gắng dịch sang tiếng Việt, hoặc xin dùng lại bản dịch tương đối chính xác của người trước (có ghi rõ tên dịch giả hoặc xuất xứ).

[29] ) Có lẽ nhầm Vĩnh Tộ thành Vĩnh Thọ, vì sau việc di đời phả ghi “đến năm Đinh Sửu đời Dương Hòa mới xây đại đình”. Trong niên hiệu Dương Hòa (1635 – 1643) chỉ có một năm Đinh Sửu là 1637, vậy việc di dời đình phải được thực hiện từ trước năm 1637, vào niên hiệu Vĩnh Tộ (1619 – 1628).

[30] Có lẽ nhầm, vì chỉ thấy liệt kê 18 giáp; bản M.Tr-A cũng viết 18 giáp, nhưng chỉ liệt kê được 17 (thiếu giáp Xuân Đình Thọ).

[31] Cùng với sắc phong cho Thành hoàng Vũ Hồn năm 1740, câu này phản bác ý kiến cho rằng đình làng Mộ Trạch bị chúa Trịnh cho đốt để trả thù việc Vũ Trác Oánh tham gia cuộc khởi nghĩa 1739 – 1741 của Nguyễn Cừ, Nguyễn Tuyển. Đại  Việt sử ký tục biên (ĐVSKTB – NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội – 1990, tr.170) ghi năm khởi nghĩa chống lại triều đình – V.T.K) đánh chiếm huyện Đường An (phủ Thượng Hồng), vậy có lẽ do nghĩa quân đốt.

[32] Nguyên Văn: “kê Chu dịch”, nghĩa là kê cứu, cứu xét kinh Dịch; hình tượng quẻ Tiết: trên là Khảm = nước, dưới là Đoài = đầm, bờ đầm hạn chế lượng nước vừa phải, nếu nước tràn hay cạn đều xấu; quẻ Tiết có nghĩa: mọi sự vừa phải thì tốt.

[33] Nguyên văn: “Tàng cưu khải Hán diên”, nghĩa là: Bói quẻ chúc rượu trong yến tiệc đời Hán. Có lẽ nhầm phong tục Hán với Liêu, vì Từ nguyên, mục “Tàng cưu nghi”, dẫn Liêu sử lễ chí cho biết đây là nghi lễ ở triều đình nhà Liêu ở phía Đông Bắc Trung Quốc, Hoàng đế cùng đình thần rút quẻ, nếu Hoàng đế rút trúng thì các quan dâng rượu mừng, sau đó Hoàng đế ban rượu để đáp lại (chữ “cưu” trong nguyên bản viết chữ “quy” (rùa) trong bộ “môn” (cửa ), không phải là chữ “cưu” với chữ “cửu) (chín) ở bên bộ “điểu” (chim), nên không thể là “trò đấu chim cưu” như có tác giả đã suy diễn (xem: Vũ Huy Phú: Mộ Trạch – làng Tiến sĩ, Bảo tàng Hải Dương, 1997, tr.117).

[34] Đời nhà Hạ tính đầu năm là tháng Dần ứng với Nhân chính theo thuyết “tam chính”: Tý là Thiên chính, Sửu là Địa chính và Dần là nhân chính (theo Từ nguyên).

[35] Xem các chú giải 34 và 35.

[36] Bản A.3132 này sao thiếu 2 câu (có trong bản M.Tr-A): “Công tam phẩm lộc, Cổ vạn kim tư” [Làm thợ nhiều lợi lộc, Buôn bán có vốn vạn tiền].

[37] Bản M.Tr-A không có tất cả các câu đối trong […], phải chăng đều do sĩ phu đời Nguyễn soạn, thường nhấn mạnh nguồn gốc Trung Hoa và quan chức cao cấp của Vũ Hồn. cũng đáng lưu ý là chỉ có 4 câu đối sau của Vũ Phương Đề ghi trong bản A.3132 trùng với 4 câu đối sau của ông ở trong bản M.Tr –A; còn 2 câu đối đầu mà bản A.3132 và những bản sao từ bản này cũng ghi là của Vũ phương Đề, thì ở bản M.Tr – A lại là hai câu khác hẳn: 1) Y nhiên văn hiến phong thanh cựu – Áng nhĩ nhân toàn phúc trạch tân [Y nguyên đó: vẻ vang văn hiến, phong tục tiếng tăm xưa - Rạng rỡ thay: toàn vẹn nền nhân, phúc lành ân huệ mới]; 2) Diên khai xuân thọ tề thiêm thọ - Trúc báo bình an cộng bảo an [Tiệc mừng xuân thọ càng thêm thọ - Trúc báo bình an lại bảo an].

[38] Câu này trong nguyên bản chép thiếu 1 chữ, căn cứ luật đối phải là chữ “tiền” (trước); xét theo ý thì có lẽ câu đối này cũng bị chép lộn vế (câu đối này thuộc loại kết vần “trắc”); xin tạm dịch theo lô-gích của ý.

[39] Hoa Hạ: tên Trung Hoa cổ đại.

[40] ) Đa phần câu đối cổ (thế kỷ XVII – XVIII) chỉ âo2n trong phả, câu “Cao hậu dữ tham …” (Thế kỷ XVIII) của Vũ Phương Đề hiện ở miếu; của Văn Đức tử (thế kỷ XIX) hiện còn câu “Vị tử tôn ..” ở đình làng, câu “Trung Hạ Nho tông …” hiện ở miếu. các câu hiện có ở đình, miếu không thấy chép trong phả, chắc mới có từ năm 1930. từ đây dấu <…> chỉ sự lược bớt câu đối, thơ văn tán tụng thuần tuý, không có giá trị phả liệu và địa chí.

[41]   Bài minh này do Hoàng Giáp 1502 Vũ Cán (sinh năm 1475) viết phụ theo bài thơ, vậy Giáp Tý đây có thể là năm 1504.

[42] Thuở Hy, Hoàng : ngụ ý thời các ông vua huyền thoại Nghêu và Thuấn, được coi là thời đại hoàng kim.

[43] Nhà thơ đời Đường Liễu Tông Nguyên có bài họa thơ của một người bạn tu tiên muốn cưỡi loan bay lên núi Tiên ở Liễu Châu, bảo bạn cưỡi tích trượng mà bay lên đó.

[44] Thi hào đời Tống Tô Đông pha trong bài phú Hậu Xích Bích có kể một đêm du thuyền trên sông Xích Bích thấy con Hạc lớn bay qua trên trời, lát sau ngủ mơ thấy đó là tiên.

[45] Lam Kiều là chiếc cầu bắc qua sông Lam ở tỉnh Thiểm Tây; theo cổ tích, nàng Văn Anh tặng bài thơ cho nho sinh Bùi Hạnh và nói đến Lam Kiều sẽ gặp tiên, chàng y lời tới cây cầu ấy, quả gặp nàng và kết làm vợ chồng.

[46] Hoàng Phúc: tức Hoàng Ngũ phúc, thượng thư nhà Minh, từng cùng Tổng binh Trương phụ chỉ huy cuộc xâm lược nước Đại Việt dưới triều Hồ, sau ở lại thi hành chính sách đô hộ của nhà Minh (1407 – 1727), thực hiện nhiều chủ trương mị dân, mua chuộc trí thức Nho học, DVSKTT ghi “là người thông minh, giỏi ứng biến, có tài trị dân, người ta phục là giỏi”; tương truyền cũng giỏi phong thuỷ.

[47] ) Hứa Thiệu nhà Hậu Hán hay bàn bạc các nhân vật trong làng mạc, mỗi tháng lại đổi một đề tài bình phẩm, gọi là “nguyệt đán bình”.

[48] Nguyên văn: “Nghi Vu hứng”, tức Nghi hà và Vu sơn ở bên Trung Hoa.

[49] Hiến sát sứ: theo quan chế thời Hồng Đức là quan chánh lục phẩm, đứng đầu Ty Hiến sát, coi về xét xử.

[50] Năm 1527 Nguyễn Thế Ân mới được phong tước này: “Đăng Dung phong cho <…> Trung quan Nguyễn Thế Ân là Lỵ quốc công (người Mộ Trạch huyện Đường An) để giúp dập ở bên cạnh mình” (ĐVSKTT).

[51] ) Lý Lão quân: là Lý Nhĩ, tức Lão Tử (thế kỷ VI trước CN), từng làm quan với nhà Chu, sau lui về ẩn dật, viết sách Đạo đức kinh, được coi là Tổ sư của Đạo giáo.

[52] Âm Đạo Lăng: nhầm lẫn 2 nhân vật: 1/ Âm Trương Sinh, cao tổ của Âm Hoàng Hậu nhà Đông Tấn (317 – 420), bỏ vào núi tiên, luyện đan ở Vũ Đương Sơn, tương truyền sống được 170 năm rồi bay lên trời; 2/ Trương Lăng, tên khác là Trương Đạo Lăng, người thời Đông Hán (25 – 220), sáng lập đạo “Ngũ Đấu mễ” (ai muốn nhập đạo chỉ phải nộp 5 đấu gạo), chủ trương tu thân, hối lỗi, thờ thần tiên, dùng bùa chú chữa bệnh (Theo: Lao Tử - từ điển Nho - Phật – Lão – TĐ N-P-L).

[53] Đỗ Quang Đình: người đời Đường Ý Tông (thế kỷ IX), thi không đỗ, vào tu ở núi Thiên Thai; về sau Vương Diễn nối ngôi, tôn ông làm Đại học sĩ; chú sách Đạo đức kinh và Thần Tiên truyện ký (TD- N-P-L). 

[54] Trương Càn Diệu: chưa tra cứu được.

[55] Ngh ịch C ảo: T ức Tr ần C ảo, n ăm 1515 kh ởi ngh ĩa ch ống triều đình Lê Tương Dực (ĐVSKTT)

[56] Bản M.Tr-A thay cho chữ “án” (nay xét) là các chữ: “Cứ Bách trúng kinh …” (căn cứ lịch Bác trúng kinh …) Bách trúng kinh là bộ lịch trung cổ của Đại Việt, khác lịch Trung Hoa (theo Hoàng Xuân Hãn).

[57] ) Hương ước làng Mộ Trạch đã soạn lại và bổ sung nhiều lần; văn bản cổ có còn không?

[58] Tương đương với Tây vuơng Trịnh Tạc (sinh năm 1606, làm chúc 1657 – 1682) mà Vũ Duy Đoán (sinh năm 1624, đỗ Tiến sĩ năm 1664) phụng sự thì “Chúa Đất Quảng” đây là chúa Nguyễn Phúc Tần, sinh năm 1620, làm chúa 1648 – 1687. Theo Lê Thành Lân - Lịch và niên biểu lịch sử 20 thế kỷ (LTL – LNBLS).

[59] ) Đây là cuộc Nam chinh tháng 10 – 1661 mà Trịnh Tạc vua Lê Thần Tông đi đánh Nguyễn Phúc Tần, hòng bắt phải quy hàng và nộp cống, nhưng đã thất bại. Tháng 2 – 1662 phải rút quân về (ĐVSKTT).

[60] ) Bản M.Tr-A không nhắc gì đến Thượng thu Vũ tướng công (Huy Liễu) và chùm thơ của ông.

[61] Bản M.Tr-A, thay cho cả đoạn trong […] chỉ có 4 chữ: “Tòng tiền thất truyền” (từ thời trước đã thất truyền): thay cho 2 chữ “Lê sơ” (= thế kỷ Xv) là 2 chữ “trung gian” (chỉ thời Lê trung hưng, thế kỷ XVII – XVIII).

[62] Trần Xuân Yến: Bìa Tiến sĩ khoa Tân Sửu niên hiệu Bảo Thái thứ 2, lập tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám năm Bảo Thái thứ 5 (1724), khắc: “Trần Xuân Yến, xã An Lạc, huyện Thanh Lâm, Giám sinh”, tức sống vào giữa thời Lê Trung hưng chứ không phải vào thời Lê Sơ.

[63] Bản M.Tr-A về tấm mộ chí này viết: “Đường An Mộ Trạch Tổ mộ” (xin lưu ý: không ghi “Khả Mộ” và không có 2 chữ “Vũ thị”).

[64] ) Vũ Thạnh (1663 - ?): học trò của Vũ Công Đạo, đỗ Thám hoa năm 1685, làm quan đến Bồi tụng, tính cương trực, trái ý chúa Trịnh nên bị bãi, về mở trường dạy học ở trại Hào Nam ngoại thành Thăng Long, là một tư thục nổi tiếng nhất hồi cuối thế kỷ XVII - đầu thế kỷ XVIII, học trò có đến hàng ngàn, 70 người thành đạt. họ vũ ở Đan Loan, ngoài Vũ Thạnh, còn Vũ Trần Tự (sau đổi tên là Trần Thiệu, bác họ ngoại của Phạm Đình Hổ) đổ tiến sĩ năm 1739, và mặc dù cũng ở huyện Đường An xưa, nhưng không thấy tài liệu nào, kể cả của danh sĩ họ Phạm, viết Thuỷ tổ của họ này là Vũ Hồn. bài thơ phần nào phản ánh danh tiếng họ Vũ Mộ Trạch vào thời cực thịnh thế kỷ XVII - nửa đầu thế kỷ XVIII.

[65] Xuân Lan: là tên hiệu của Tiến sĩ Vũ Miên, gọi theo tên xã cũ, nay thuộc huyện Gia Lương tỉnh Bắc Ninh; xưa thường gọi các danh sĩ theo tên địa phương cư trú, ví dụ Tiến sĩ 1826 Vũ Tông Phan, nguyên quán xã Lương Đường huyện Đường An - Hải Dương, nhưng cư trú ở thôn Tự Tháp ven bờ phía Tây của hồ Hoàn Kiếm, Hà Nội, nên tục gọi là “ông Nghè Tự Tháp”.

[66] Xuân Hy cũng là tên xã cũ, nay thuộc huyện Đông Anh, Hà Hội.

[67] Bản M.Tr – A: Kim Hoa (tức không viết kỵ huý chữ “Hoa”).

[68] Nay thuộc huyện Giao Thuỷ tỉnh Nam Định.

[69] Nay thuộc huyện Kim Thành tỉnh Hải Dương.

[70] Xin lược bỏ các bài thơ chữ Hán, vì nội dung đại để như bài thơ Nôm: ca ngợi truyền thống học hành và đỗ đạt “tám trăm năm” (tính từ Thuỷ tổ Vũ Hồn, mặc dù không có tài liệu nào, kể cả quyển chính phả này, khẳng định Vũ Hồn từng đỗ Tiến sĩ); cũng nhắc nhở mối quan hệ tông tộc của họ Vũ ở Kinh Bắc (Bắc Ninh). Sơn Nam (Nam Định) với Vũ Mộ Trạch (Hải Dương).

 

Người đăng: admin