Trang chủ Diễn đàn Tin tức Đăng ký Thư viện ảnh Hỏi đáp Video Giới thiệu Liên hệ Đăng nhập Xin chào
Danh mục
Thống kê
Đang online: 10
Truy cập hôm nay: 257
Lượt truy cập: 8,105,520
Hỗ trợ trực tuyến
Quảng cáo
KHỞI NGUỒN, LỊCH SỬ DÒNG HỌ VŨ-VÕ

Vì vậy, trong những năm tháng cuối đời còn lại, khi tôi đã sắp tròn 90 tuổi, nhờ ơn Tiên Tổ ít nhiều theo đòi nghiên bút mà võ vẽ năm ba, đôi phần chữ nghĩa. Nay xét thấy, những bút tích tiền nhân để lại, biết mà không lưu lại, làm mất đi những di sản quý báu ấy, thực là có tội với Tổ Tiên. Cuốn sách mỏng này, chúng tôi cùng nhau lượm lặt, sưu tầm ghi lại những câu đối, những bức hoành phi, mà tổ tiên đã dựng lên, khắc ghi, cung kính treo ở đình, miếu, chùa trên các đồng trụ, cổng làng. Tuy một số đã mất đi, một phần còn lại đó, xin kính cẩn ghi lại, phiên âm. Có thể có chữ chưa đúng, chưa chuẩn như nguyên bản. Mong rằng : Chữ nào chưa đúng hoặc thiếu, hoặc sai mong được bổ sung cho được hoàn hảo.

Việc làm này, không hề có tham vọng gì, mà chỉ nghĩ: Cháu con phải có trách nhiệm gìn giữ di sản của tổ tiên, sao cho những di sản văn hoá ấy mãi mãi được lưu tồn, như những tài sản quý giá của dòng họ Vũ Võ Việt Nam, danh thơm muôn thủa.

Chi tiết

Phần thứ nhất: Dịch nguyên văn bài nói đầu về thế hệ sự tích họ Vũ làng Mộ Trạch, nguyên văn bằng chữ Hán của cử nhân, Hình Bộ Lang Trung Vũ Phương Lan, viết năm 1769, có chú thích, đóng trong dấu ngoặc, và nói nội dung của sự nghiệp tục biên.

Phần thứ hai: Thế hệ họ Vũ làng Mộ Trạch từ đời thứ nhất đến đời thứ tư, bắt đầu phân ra ngũ chi, bát phái.

Phần thứ ba: Những chi (chi một và chi bốn) và những phái (phái Giáp, phái Ất, phái Bính) con cháu đã chuyển đi ở nơi khác hoặc không có người nối dõi, không còn ai ở làng.

Phần thứ tư: những chi (chi hai, chi ba, chi năm) và những phái (phái Đinh, phái Mậu, phái Kỷ, phái Canh, phái Tân) hiện con cháu còn ở trong làng.

Phần thứ năm: a)  Các phái hình thành về sau. -  b)   Phả họ Nhữ, từ phụ lục của phái Kỷ.  -  c)  Phả họ Nguyễn từ phụ lục của phái Ất. -   d)  Sơ đồ phả hệ họ Lê làng Mộ Trạch.  -  đ)   Mục lục.   e)  Phụ lục:  29 bài thơ vịnh nhân vật bổ sung cho những bài đã ghi trong phần dịch phả.  -   g)   Bàn về  nét  (tục biên)

Chi tiết

Cụ Vũ Tảo: PHỤ QUỐC THƯỢNG TƯỚNG QUÂN, tước: Lương Trạch Bá thời MẠC; ông là thế hệ thứ 6 của phái Ất làng Mộ Trạch. Là cháu 4 đời (tức cháu cố hay chắt) của cụ Vũ Quang Lộc (đời thứ 3 và là anh ruột của Tiến sĩ Vũ Cán 1502). Ông sinh vào khoảng đầu triều Vua Mạc Đăng Doanh (1530 – 1540)? Và là con duy nhất của cụ danh y: Vũ Bất Trị (đời 5) Thái Bộc Tự Thiếu Khanh Đạo (xứ) Nghệ An (triều Mạc Đăng Doanh, Phúc Hải, Phúc Nguyên 1530 – 1561) hiệu của cụ Bất Trị là Du Hiên, thọ 70 tuổi.

Chi tiết

       Đây là một làng cổ có từ giữa thế kỷ thứ IX (chín) được một nhân vật lịch sử VŨ HỒN (804 – 853) thành lập cách nay 1155 năm (844 – 2009) vẫn còn là các di tích văn hóa và lịch sử cổ đáng tham quan chiêm bái.

       Làng Mộ Trạch hiện nay thuộc xã Tân Hồng, huyện Bình Giang tỉnh Hải Dương. Cách thủ đô Hà Nội khoảng 45 cây số đường xe chạy, bằng quốc lộ 5, hướng thị trấn Gia Lâm đi về phía thành phố Hải Dương và Hải Phòng (qua các thị trấn Sài Đồng, Trâu Quì, Như Quỳnh, Bần Yên Nhân…)

Chi tiết

 

VĂN TẾ THỦY TỔ VŨ VÕ

(Trong lễ An Vị tượng đồng Đức Thủy Tổ, nặng 490kg
 do sáu vị họ Vũ Võ đã thành tâm cung tiến
“VỌNG TỪ ĐƯỜNG DÒNG HỌ VŨ VÕ PHƯƠNG NAM”
tại Long Đức, Long Thành, Đồng Nai).

CUNG DUY:

Nước Việt Nam, ngày 11, tháng Ba, năm Kỷ Sửu, tại xã Long Đức, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai, phương Nam Tổ quốc.

Nhân lễ Khánh Hạ bảo tượng Tôn Nhan, Đức Thần Thủy Tổ: Lâu Đài Cư Sĩ, Đương Cảnh Thành Hoàng, VŨ CÔNG, húy HỒN, nguyên quán trang Khả Mộ-Mộ Trạch, Hồng Châu, Hải Dương.

Chi tiết

 

Tuổi thơ ấu, rất mực thông minh

Thời thành đạt, càng thêm đức độ

Nẻo khoa danh, thẳng cánh chim bằng

Nơi đình thí treo lên bảng hổ

Chi tiết

 

CHỮ HÁN

1

 

Hải Dương thần phả

35 trang

K.h:HV.439(TV Viện Sử Học).

2

 

Mộ Trạch thế phả

14 trang

K.h: A.985 (Thư viện Hán Nôm).

3

 

Mộ Trạch tự điển cổ lệ

 

K.h A.660 (TV Hán Nôm).

4

 

Mộ Trạch Vũ tộc bát phái phả

246 trang.

K.h: A.660 (TV Hán nôm).

 

Chi tiết

Tổ họ Vũ phát tích tự làng Mộ Trạch, huyện Đường An, nay đổi thành phủ Bình Giảng thuộc tỉnh Hải Dương (Bắc Việt).

Tục truyền: Hồi Bắc thuộc, khu đất làng Mộ Trạch cạnh đường, có một quán hàng bán nước và quà bánh cho khách qua lại của một bà quả phụ trạc ngoại tứ tuần cùng đưá con trai độ 14,15 tuổi. Những người trong vùng cũ không ai rõ lai lịch người đàn bà này, chỉ biết gọi là bà quán nước và đứa con trai là Vũ Hồn mà thôi. Sinh kế của hai mẹ con bằng quán nuớc thường thiếu thốn, nên Vũ hồn phải đi câu cá tôm và bắt cua ốc bán lấy tiền thêm giúp mẹ.

Chi tiết

Theo gia phả, tộc phả và thần phả ở Mộ Trạch, vào đời Nhà Đường bên Trung Quốc (618-907), khoảng năm 800, có một quan chức tên là Vũ Huy (1), người làng Mã Kỳ, huyện Long Khê, phủ Thường Châu, tỉnh Phúc Kiến (2) . Vợ ông là bà Lưu thị Phương. Hai ông bà đã nhiều tuổi, khoảng gần 60 tuổi, vẫn chưa có con cái. Ông Vũ Huy là một nhà nho, do đó ông thường thường than rằng: " Vàng núi, thóc biển coi như cỏ rác; con hiếu, cháu hiền qúy hơn châu, ngọc". Sau đó, ông làm sớ dâng lên vua Đường xin được nghỉ, về làm trí sĩ. Vua Đường chuẩn cho, lại ban phát xe, ngựa, vàng, bạc. Ông tạ ơn, về quê sống cảnh an nhàn và đi du ngoạn. Ông Vũ Huy vốn tinh thông khoa địa lý phong thủy, do đó đã lên đường đi du ngoạn về Phương Nam, đến đất Giao Châu, khi ấy là khu đất thuộc đồng bằng Bắc Bộ bây giờ.

Chi tiết

Thủy Tổ sinh ở Trang Man - Nhuế, Hương Nam sách (sau thuộc phủ Hồng Châu, xứ Hải Dương) vào đêm ngày tám, tháng giêng, năm Giáp-Thân (là năm 804). Tương truyền, mẹ Ngài là cụ Bà Nguyễn Thị Đức ở Trang Mang Nhuế này, vốn là người Việt gốc ở làng Kiệt Đặc, Chí Linh. Thân phụ Ngài - cụ Vũ Huy vốn là nhà Nho, rất giỏi về khoa phong thủy, địa lý.

Chi tiết
Trang:4 - 5 - 6 - 7 - 8 - 9 - 10 - 11 - 12 - 13« Back · Next »